Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHO QUAN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Tạ Hữu L, sinh năm 1990 tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Tạ Hữu T và bà Phạm Thị Đ; Vợ: Đỗ Thị M; Con: có 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2025, đến ngày 27/01/2025 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Người làm chứng: Anh Đào Sỹ C, sinh năm 1982 (vắng mặt).

- Người chứng kiến: Anh Bùi Văn Y, sinh năm 1983 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/12/2024, Tạ Hữu L đi xe khách từ nhà ở xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình đến tỉnh Nghệ An nhằm mục đích mua pháo nổ về để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán Ất Tỵ 2025. Khi đi đến địa phận huyện T, tỉnh Nghệ An thì Tạ Hữu L xuống xe rồi đi xe ôm của một người không quen biết đến khu vực đường H thuộc địa phận huyện T, tỉnh Nghệ An. Tại đây L đã gặp một người nam giới đội mũ lưỡi trai mầu đen, đeo khẩu trang không quen biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng ở ven đường. L xuống xe ôm đi bộ đến gặp người nam giới hỏi “Anh có bán pháo nổ (pháo hoa nổ) không?”. Người nam giới trả lời “Có bán pháo hoa, đồng ý mua không”. Sau khi thỏa thuận, Tạ Hữu L đồng ý mua của người nam giới này 02 hộp pháp nổ loại 36 quả và 06 hộp pháo nổ loại 49 quả với tổng số tiền 8.600.000 đồng. Người nam giới đã đưa 08 hộp pháo nổ được gói ngoài bằng túi nilon mầu đen để L kiểm tra, xác định đúng là loại pháo cần mua nên L đã thanh toán bằng tiền mặt số tiền 8.600.000 đồng cho người nam giới này. Sau khi mua được pháo nổ thì Tạ Hữu L đi xe ôm quay lại chỗ cũ rồi đón xe khách mang theo số pháo vừa mua được đi về nhà. Khi về đến nhà ở thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình thì Tạ Hữu L đã cất giấu tại gác lửng phòng vệ sinh tầng 1 của gia đình.

Đến ngày 24/01/2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc Tạ Hữu L cất giấu trái phép pháo nổ. Tổ công tác Công an xã P phối hợp cùng Công an xã V đến nhà Tạ Hữu L để làm việc. Quá trình làm việc biết không thể che giấu được việc cất giấu trái phép pháo nổ nên Tạ Hữu L đã giao nộp cho Tổ công tác 02 hộp pháp nổ loại 36 quả và 06 hộp pháo nổ loại 49 quả đồng thời khai nhận đó là số pháo của L cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra và thu giữ 05 (năm) hình hộp chữ nhật, mỗi hộp kích thước (17,5 x 17,5 x 10)cm, bên ngoài mỗi hộp bọc bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, phía dưới bọc giấy bạc; 01 (một) hộp hình chữ nhật kích thước (17,5 x17,5 x 10)cm, bên ngoài bọc bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, phía dưới đáy bọc giấy bạc màu trắng; 02 hộp hình chữ nhật, mỗi hộp kích thước (14 x 14 x 13,5)cm, bên ngoài mỗi hộp bọc bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, phía dưới bọc giấy màu nâu.

Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng các hộp hình chữ nhật thu giữ của Tạ Hữu L kết quả: 05 (năm) hình hộp chữ nhật, mỗi hộp kích thước (17,5 x 17,5 x 10)cm, bên ngoài mỗi hộp bọc bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, phía dưới bọc giấy bạc màu trắng có khối lượng là 8,8kg ký hiệu QT01; 01 (một) hộp hình chữ nhật kích thước (17,5 x17,5 x 10)cm, bên ngoài bọc bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, phía dưới đáy bọc giấy bạc màu trắng có khối lượng là 1,7kg ký hiệu QT02; 02 hộp hình chữ nhật, mỗi hộp kích thước (14 x 14 x 13,5)cm, bên ngoài mỗi hộp bọc bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài, phía dưới bọc giấy màu nâu có khối lượng là 2,7kg ký hiệu QT 03 để gửi phòng K Công an tỉnh N giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 161/KL-KTHS-ChN ngày 27/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • 08 (tám) khối hình hộp chữ nhật bọc giấy trong các mẫu ký hiệu QT01, QT02, QT03 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (hay còn gọi là pháo hoa nổ).
  • Tổng khối lượng của 05 hộp pháo nổ ký hiệu QT01 là 8,831 kg (tám phẩy tám trăm ba mươi mốt ki lô gam); Khối lượng của hộp pháo nổ ký hiệu QT02 là 1,661 kg (một phẩy sáu trăm sáu mươi mốt ki lô gam); Tổng khối lượng của 02 hộp pháo nổ ký hiệu QT03 là 2,765 kg (hai phẩy bẩy trăm sáu mươi lăm ki lô gam.

Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: 05(năm) hộp pháo nổ ký hiệu QT01 còn lại sau giám định có khối lượng còn lại 8,330 kg; 01 (một) hộp pháo nổ ký hiệu QT02 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 1,568 kg; 02 (hai) hộp pháo nổ ký hiệu QT03 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 2,505 kg.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKSNQ ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã truy tố bị cáo Tạ Hữu L về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Hữu L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Hữu L từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Tạ Hữu L cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

  • Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy: 05(năm) hộp pháo nổ ký hiệu QT01 còn lại sau giám định có khối lượng còn lại 8,330 kg; 01 (một) hộp pháo nổ ký hiệu QT02 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 1,568 kg; 02 (hai) hộp pháo nổ ký hiệu QT03 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 2,505 kg. Tất cả được đựng trong một thùng cát tông dán giấy niêm phong được chuyển đến Kho vũ khí của đơn vị Đại đội kho kỹ thuật, Phòng hậu cần - kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan. Bị cáo thừa nhận nội dung truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo mà Kiểm sát viên đã đưa ra là đúng, không oan sai nên không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Quyết định truy tố, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, các tang vật đã thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội. Đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 40 phút ngày 24/01/2025, tại gác lửng phòng vệ sinh tầng 1 của gia đình bị cáo Tạ Hữu L ở thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Bị cáo Tạ Hữu L có hành vi tàng trữ trái phép 08 hộp pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ) có tổng trọng lượng là 13,257 kg nhằm mục đích để sử dụng vào dịp Tết nguyên đán Ất Tỵ 2025 thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa bị cấm mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội cũng như tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, ý thức được việc tàng trữ pháo nổ để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Với tổng trọng lượng pháo tàng trữ để sử dụng là 13,257 kg thì hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c) P nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

...”

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Tạ Hữu L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự vàcác điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức hình phạtđối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo có bố đẻ ông Tạ Hữu T là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Bản thân bị cáo đã tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 2010 đến năm 2012. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt: Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan cũng đủ răn đe và phòng ngừa.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định. Mặt khác, bị cáo tàng trữ pháo nổ nhằm mục đích sử dụng, không mua bán kiếm lời. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 05 (năm) hộp pháo nổ ký hiệu QT01 còn lại sau giám định có khối lượng còn lại 8,330 kg; 01 (một) hộp pháo nổ ký hiệu QT02 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 1,568 kg; 02 (hai) hộp pháo nổ ký hiệu QT03 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 2,505 kg không rõ nguồn gốc và là hàng hóa Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[6]. Đối với người nam giới bán pháo nổ cho bị cáo Tạ Hữu L tại khu vực đường H thuộc địa phận huyện T, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên không đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Tạ Hữu L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Hữu L 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/02/2025.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) hộp pháo nổ ký hiệu QT01 còn lại sau giám định có khối lượng còn lại là 8,330 kg; 01 (một) hộp pháo nổ ký hiệu QT02 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 1,568 kg; 02 (hai) hộp pháo nổ ký hiệu QT03 còn lại sau giám định, có khối lượng còn lại là 2,505 kg. Tất cả được đựng trong một thùng bìa cát tông dán giấy niêm phong được chuyển đến Kho vũ khí của đơn vị Đại đội kho kỹ thuật, Phòng hậu cần – kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N.

(Chi tiết theo Biên bản giao vật chứng vụ án ngày 05/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Đại đội kho kỹ thuật, Phòng hậu cần – kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Tạ Hữu L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Nho Quan;
  • - Cơ quan Điều tra CA huyện Nho Quan;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Nho Quan;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Nho Quan;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH về tàng trữ hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TẠ HỮU L PHẠM TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger