Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quốc Toản và ông Nguyễn Văn Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với:

Bị cáo Đặng Xuân K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 8 năm 1989 tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã H, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân T (chết) và bà Lương Thị Kim H; vợ, con: Chưa có; nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình tại xã T, thị xã H, học văn hóa đến lớp 9/12 thì nghỉ học. Năm 2008 tham gia nghĩa vụ quân sự tại tiểu đoàn 14, pháo phòng không 37 đóng tại thành phố V, tỉnh Nghệ An đến năm 2010 xuất ngũ về địa phương làm nghề thợ xây cho đến ngày phạm tội (01/11/2024); Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A đường T, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt.

Người làm chứng:

  • + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, thành phố H, vắng mặt.
  • + Anh Huỳnh C, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ D, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Xuân K là bạn của chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1996 trú tại thôn L, xã P, huyện P và chị Nguyễn Thị V (trú tại số A đường T, tổ D, phường T, thị xã H) nên biết rõ đặc điểm chìa khóa nhà của chị V và cũng biết việc chị V đưa cho chị T1 cất giữ chìa khóa nhà. Vì vậy, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, khi K đến nhà chị T1 chơi, thấy chìa khóa cửa chị V để trên tủ lạnh thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị V; K lấy chìa khóa cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/11/2024, biết chị V không có ở nhà nên K một mình điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 75G1-106 72 (xe của K) đến nhà chị V, dùng chìa khóa đã lấy trước đó mở cửa vào nhà trộm cắp 01 túi xách bằng vải màu đen có dây đeo và 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) rồi ra xe tẩu thoát. Sau đó, K kiểm tra bên trong túi xách có 7.922.000 đồng (Bảy triệu chín trăm hai mươi hai ngàn đồng).

Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh-trắng, biển kiểm soát 75G1-106.72, số khung P10DY-211893, số máy: 55P1-211904; 01 chìa khóa bằng kim loại màu trắng, mặt trước và mặt sau chìa khóa có khắc chữ “LUU MY”; Tiền Ngân hàng N: 32.922.000 đồng.

Hiện cơ quan điều tra đã trả lại tiền, chìa khóa cho chủ sở hữu.

Đối với túi xách bằng vải màu đen có dây đeo, kích thước dài khoảng 25cm, rộng khoảng 20cm, cao khoảng 20cm đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại bản kết luận định giá số: 82/KL-HĐĐGTS ngày 13/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận: 01 túi xách bằng vải, màu đen, có dây đeo, kích thước dài khoảng 25cm, rộng khoảng 20cm, cao khoảng 20cm đã qua sử dụng có giá trị định giá: 10.000 đồng (mười ngàn đồng chẵn).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tiền đầy đủ, không yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Xuân K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đặng Xuân K từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh – trắng, BKS 75G1 – 106.72, số khung P10DY-211893, số máy: 55P1-211904 của bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Xuân K thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; tỏ ra ăn năn, hối hận về hành vi đã gây ra. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/11/2024, tại tổ D, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Đặng Xuân K đã có hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Thị V, số tiền 32.922.000 đồng và 01 túi xách bằng vải màu đen trị giá 10.000 đồng; tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 32.932.000 đồng (Ba mươi hai triệu chín trăm ba mươi hai ngàn đồng chẵn). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 09/CT-VKSHTh ngày 30/12/2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Đặng Xuân K có nhân thân tốt. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đã từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và được tặng giấy khen; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Đặng Xuân K có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, cần cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh – trắng, BKS 75G1 – 106.72, số khung P10DY-211893, số máy: 55P1-211904 của bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân K phạm tội: “Trộm cắp tài sản".

2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân K 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Xuân K cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu xanh – trắng, BKS 75G1 – 106.72, số khung P10DY-211893, số máy: 55P1-211904 của bị cáo.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Xuân K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT CA thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS CA thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - UBND xã Thủy Tân, thị xã Hương Thủy, thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân K "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger