Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Thơ.
  2. Ông Lê Quang Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Dương Lâm Thiên Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/HSST-QĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đăng K, sinh năm 2004, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ I, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Thanh P, sinh năm: 1981 và bà: Lê Thị D, sinh năm: 1982; Vợ, Con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Trần Minh Phạm Hoàng G, sinh năm 2004 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ trụ sở: Tổ A, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  1. Võ Thành C, sinh năm 1980 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: Khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Hoàng H, sinh năm 2004 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: Tổ B, ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Đặng Văn X, sinh năm 1991 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Nơi cư trú: Tổ B, khóm C, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đăng K là sinh viên đang theo học tại Trường Cao đẳng C1, bản thân thích chơi game nhưng không thường xuyên. Khoảng 09 giờ 58 phút ngày 22/8/2024, lúc này đang trong giờ ra chơi, K từ lớp học đi bộ đến nhà giữ xe sau dãy A của T1, dùng chìa khoá mở yên xe của mình để lấy tiền trong cốp xe nhưng chỉ còn khoảng 100.000 đồng, trong khi đang cần tiền nạp game để mua các vật phẩm trong game như súng, trang phục,...thấy nhà giữ xe vắng người và trước đây Khoa nhiều lần thấy các bạn đang theo học tại T để tiền trong cốp xe nên K nảy sinh ý định cạy yên xe của các bạn sinh viên khác lấy trộm tiền trong cốp xe để nạp game.

K dùng tay mở 4-5 yên xe nhưng không mở được, đến chiếc xe biển số 66F1-858.54, nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, lúc này có bạn sinh viên bước vào nên K hốt hoảng rồi giả vờ đút chìa khoá xe của mình vào ổ khoá xe định trộm và vặn mở thì mở được ổ khóa. K mở cốp xe thấy 01 cái ví da màu đen nên lấy cất giấu vào túi quần, đóng yên xe lại, đi đến căn tin mua nước uống và lên lớp học đến 10 giờ 25 phút cùng ngày tan học. K điều khiển xe đến đoạn vắng người ngang cổng Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp lấy ví ra kiểm tra bên trong có 7.300.000 đồng gồm có 10 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 11 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và các giấy tờ tuỳ thân, gồm có Căn cước công dân, Giấy phép lái xe, thẻ sinh viên, thẻ ngân hàng mang tên Trần Minh Phạm Hoàng G. Sau khi lấy tiền Khoa ném ví cùng các giấy tờ của G xuống bờ kè gần mé sông (hiện không thu hồi được).

Sau khi lấy được tiền, K chạy đến trụ ATM Ngân hàng A tại Phường B dùng tiền trộm được nạp vào tài khoản 1.700.000 đồng. Đến 16 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi tan học buổi chiều K tiếp tục đến trụ ATM Ngân hàng A tại Phường B nạp thêm vào tài khoản 3.000.000 đồng.

Sau khi tan học khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, Trần Minh Phạm Hoàng G lấy xe đi ăn cơm, đến khi tính tiền thì phát hiện mất ví da bên trong cốp xe, G

liên hệ bảo vệ của nhà trường là anh Đặng Văn X để xem lại camera thì phát hiện Nguyễn Đăng K là người lấy ví da của G nên đến Công an phường H trình báo sự việc. Đến 09 giờ 00 phút ngày 23/8/2024 K được thầy Võ Thành C là giáo viên phụ trách công tác chính trị sinh viên của T1 dẫn đến Công an phường H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, sau đó K tự nguyện giao nộp số tiền mặt còn lại là 2.600.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 chìa khoá xe có phần thân trên bằng kim loại (có hình răng cưa không đều), phía dưới trên thân kim loại có dãy số 5499, phần đuôi chìa khoá được bao bọc bởi lớp nhựa màu đen có dòng chữ Yamaha.

Kết luận giám định số 1536/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận USB lưu trữ 01 tệp tin video ghi lại hành vi phạm tội của bị can Nguyễn Đăng K: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa. Sau khi giám định Cơ quan điều tra thu giữ lưu theo hồ sơ vụ án.

Ngày 19/12/2024 bị hại Trần Minh Phạm Hoàng G đã nhận lại đủ số tiền 7.300.000 đồng.

Đối với 01 ví da màu đen của Trần Minh Phạm Hoàng G, sau khi bị Nguyễn Đăng K lấy trộm đã ném xuống mé sông không thu hồi được, không rõ nhãn hiệu, theo lời trình bày của bị hại G ví da đã cũ, không còn giá trị sử dụng, bị hại G không yêu cầu định giá tài sản và không thắc mắc, khiếu nại. Các giấy tờ tuỳ thân mang tên Trần Minh Phạm Hoàng G, bị hại G sẽ tự làm lại giấy tờ mới, không yêu cầu K bồi thường hay hỗ trợ gì thêm.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Đăng K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên; phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; kết luận giám định USB; biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường; lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKS-TPCL ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Áp dụng khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

- Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo, lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; kết luận giám định USB; biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường; lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Do không có tiền nạp game để mua các vật phẩm trong game như súng, trang phục, ... và nhiều lần thấy các bạn sinh viên thường để tiền trong cốp xe nên khoảng 09 giờ 58 phút ngày 22/8/2024 K lợi dụng sự vắng người trong nhà giữ xe sau dãy A của trường Cao đẳng C1, lén lút mở yên xe của Trần Minh Phạm Hoàng G lấy 01 ví da của G để trong cốp xe, bên trong ví có 7.300.000 đồng tiền mặt và các giấy tờ cá nhân mang tên Trần Minh Phạm Hoàng G.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo còn khai rằng biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì cần tiền để phục vụ cho việc chơi game, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đăng K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ....”.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

· Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

· Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú, bị hại làm đơn xin xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, do đó không cần thiết bắt phải chấp hành hình phạt tù mà chỉ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, học tập, lao động, trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) chìa khoá xe có phần thân trên bằng kim loại (có hình răng cưa không đều), phía dưới trên thân kim loại có dãy số 5499, phần đuôi chìa khoá được bao bọc bởi lớp nhựa màu đen có dòng chữ Yamaha, là vật liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/01/2025).

[8] Các vấn đề khác:

Đối với hành vi bị cáo lấy trộm tài sản 01 ví da màu đen và các giấy tờ tuỳ thân mang tên Trần Minh Phạm Hoàng G bên trong ví của Trần Minh Phạm Hoàng G. Xét thấy: Sau khi bị cáo lấy trộm, bị cáo đã ném 01 ví da màu đen cùng các giấy tờ tuỳ thân mang tên Trần Minh Phạm Hoàng G bên trong ví xuống mé sông không thu hồi được, ví da không rõ nhãn hiệu, bị hại G trình bày ví da đã cũ, không còn giá trị sử dụng, bị hại G không yêu cầu định giá tài sản và không thắc mắc, khiếu nại. Các giấy tờ tuỳ thân mang tên Trần Minh Phạm Hoàng G, bị hại G sẽ tự làm lại giấy tờ mới, không yêu cầu K bồi thường hay hỗ trợ gì thêm, nên không có căn cứ xem xét đối với các tài sản này.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng K, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/02/2025).

    Giao bị cáo Nguyễn Đăng K cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  4. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chìa khoá xe có phần thân trên bằng kim loại (có hình răng cưa không đều), phía dưới trên thân kim loại có dãy số 5499, phần đuôi chìa khoá được bao bọc bởi lớp nhựa màu đen có dòng chữ Yamaha.

    (Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/01/2025).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đăng K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger