|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/DSST.
Ngày: 24/02/2025.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Bà: Lê Thị Mỹ.
2. Bà: Trần Thị Lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa:
Ông Trần Công Đỉnh – Kiểm sát viên.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 104/2021/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2021, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP KL.
Địa chỉ: Số 40-42-44 đường Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tuấn A. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn T. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP KL - Chi nhánh Rạch Giá.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Huỳnh Quang Minh V. Chức vụ: Phó Phòng Khách hàng cá nhân - Chi nhánh Rạch Giá. (Có mặt)
* Bị đơn: Bà Châu Thị Kim N, sinh năm: 1979. (Vắng mặt)
Ông Đỗ Quốc P, sinh năm: 1979. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: P3-15 đường 3/2, khu phố 5, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP KL - ông Huỳnh Quang Minh V trình bày:
Bà Châu Thị Kim N và ông Đỗ Quốc P có ký với Ngân hàng TMCP KL - Chi nhánh Rạch Giá Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp, cầm cố số HV 895626/HĐTD-CC ngày 04/10/2019, vay số tiền như sau:
- - Số tiền vay: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- - Mục đích vay: Kinh doanh dịch vụ ăn uống.
- - Ngày giải ngân: 04/10/2019. Ngày đến hạn: 02/01/2020.
- - Thời hạn vay: 90 ngày.
- - Lãi suất cho vay: 16%/năm.
- - Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, tính trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả.
- - Hình thức thanh toán: Trả gốc + lãi theo định kỳ hàng ngày, kể từ ngày 05/10/2019 đến ngày 02/01/2020, mỗi ngày trả 1.154.836 đồng, ngày cuối trả 1.164.836 đồng.
- - Tài sản bảo đảm nợ vay: 03 xe môtô. Cụ thể:
- + Xe môtô biển kiểm soát 68X1-161.33, nhãn hiệu SYM, màu xám bạc, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 038855 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 18/9/2017, đứng tên ông Nguyễn Long Thái, ông Thái bán cho bà Châu Thị Kim N ngày 09/01/2018.
- + Xe môtô biển kiểm soát 68M5-1742, nhãn hiệu HONDA, màu đỏ đen, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 014113 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 16/8/2013, đứng tên ông Đỗ Quốc P.
- + Xe môtô biển kiểm soát 68S1-160.09, nhãn hiệu YAMAHA, màu trắng xanh, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 014113 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 20/01/2009, đứng tên bà Châu Thị Kim N.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn, bà Châu Thị Kim N và ông Đỗ Quốc P chỉ thanh toán được tiền gốc số tiền là 41.111.000 đồng và một phần lãi tính đến ngày 10/11/2019 cho Ngân hàng. Trong khi đó, nội dung hợp đồng quy định bà N, ông P phải trả gốc + lãi hàng ngày. Do vậy, bà N và ông P đã vi phạm hợp đồng tín dụng.
Tạm tính đến ngày hôm nay 24/02/2025, bà Châu Thị Kim N và ông Đỗ Quốc P còn nợ Ngân hàng TMCP KL số tiền như sau:
- - Nợ gốc: 58.889.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 1.387.163 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 73.807.547 đồng.
- Tổng cộng: 134.083.710 đồng.
Tại phiên tòa, ông Huỳnh Quang Minh V đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP KL yêu cầu bà Châu Thị Kim N và ông Đỗ Quốc P phải trả cho Ngân hàng TMCP KL tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/02/2025 là 134.083.710 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm mười đồng) và tiền lãi phát sinh tính theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố từ ngày 25/02/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp bà N và ông P không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực pháp luật, thì Ngân hàng TMCP KL có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản đã cầm cố để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không tham gia tố tụng.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá phát biểu quan điểm:
- - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, riêng bị đơn ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn giải quyết vụ án thì chưa đảm bảo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP KL về việc yêu cầu ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải trả số tiền nợ vay vốn gốc và lãi của hợp đồng vay tính đến ngày 24/02/2025 là 134.083.710 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm mười đồng), cùng tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 25/02/2025, lãi suất tính theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP KL khởi kiện bị đơn là ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N có địa chỉ thường trú tại số P3-15 đường 3/2, khu phố 5, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, yêu cầu ông P và bà N trả tiền vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng thế chấp, cầm cố số HV 895626/HĐTD-CC ngày 04/10/2019, nên xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, cũng không có căn cứ cho việc vắng mặt của ông P và bà N là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngân hàng TMCP KL khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải trả số tiền nợ vay vốn gốc và lãi tính đến ngày 24/02/2025 là 134.083.710 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm mười đồng), cùng tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 25/02/2025, lãi suất tính theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP KL đã nộp cho Tòa án các hợp đồng được ký kết giữa phía Ngân hàng với ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N như: Giấy đề nghị vay vốn trả góp đề ngày 02/01/2018; Tờ trình thẩm định tín dụng đề ngày 09/01/2018; Hợp đồng tín dụng số HV895626/HĐTD-CC ngày 04/10/2019; Biên bản thỏa thuận gửi giữ tài sản; Giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 09/01/2018; Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 038855, 014113 và 035923; Bảng kê tính lãi, tiền phạt và vốn vay... để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Xét các Hợp đồng đã được các bên ký kết là đúng trình tự quy định của pháp luật. Việc Ngân hàng khởi kiện là do ông P và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng cũng đã có văn bản nhắc nhở đối với ông P và bà N, nên việc Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ. Quá trình tố tụng, bị đơn ông P và bà N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, và bị đơn cũng không đến Tòa án tham dự phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Căn cứ Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần buộc ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP KL tổng số tiền nợ vay vốn gốc và lãi tính đến ngày 24/02/2025 là 134.083.710 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm mười đồng), cùng tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 25/02/2025, lãi suất tính theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng đã ký là có cơ sở.
[4] Về án phí dân sự có giá ngạch: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, điểm d mục 1.3 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 24 tháng 02 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là: 134.083.710 đồng x 5% = 6.704.185 đồng (Sáu triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn một trăm tám mươi lăm đồng).
- Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên nguyên đơn Ngân hàng TMCP KL không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí Ngân hàng TMCP KL đã nộp là 1.522.000 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001348 ngày 30/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 93; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ: Điều 351; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ: Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26; điểm đ mục 1.3 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 24/02/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP KL.
Buộc ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL tổng số tiền vay vốn gốc và lãi tính đến ngày 24/02/2025 là: 134.083.710 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm mười đồng).
Kể từ ngày 25/02/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N còn phải trả cho Ngân hàng TMCP KL khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký trên số nợ gốc tương ứng với thời gian chưa thi hành án, nhưng phải phù hợp quy định của pháp luật.
Trường hợp trong các Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kì của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Nếu ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không hết nợ, thì Ngân hàng TMCP KL có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi bảo đảm để thu hồi nợ vay là:
- + 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 68X1-161.33, nhãn hiệu SYM, màu xám bạc, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 038855 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 18/9/2017, đứng tên ông Nguyễn Long Thái, ông Thái bán cho bà Châu Thị Kim N ngày 09/01/2018.
- + 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 68M5-1742, nhãn hiệu HONDA, màu đỏ đen, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 014113 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 16/8/2013, đứng tên ông Đỗ Quốc P.
- + 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 68S1-160.09, nhãn hiệu YAMAHA, màu trắng xanh, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 014113 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 20/01/2009, đứng tên bà Châu Thị Kim N.
Nếu tài sản kê biên, phát mãi không đủ để thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP KL, thì ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP KL đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là: 6.704.185 đồng (Sáu triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn một trăm tám mươi lăm đồng).
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP KL số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.522.000 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001348 ngày 30/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
[3] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thành viên Hội đồng xét xử |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Thị Lệ Lê Thị Mỹ |
Vũ Thị Phương Thanh |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Rạch Giá, ngày 24 tháng 02 năm 2025
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ....... giờ ....... phút, ngày 24 tháng 02 năm 2025.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Lê Thị Mỹ.
2. Bà: Trần Thị Lệ.
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 104/2021/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2021, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP KL.
Địa chỉ: Số 40-42-44 đường Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tuấn Anh. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn Tùng. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP KL - Chi nhánh Rạch Giá.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Huỳnh Quang Minh V. Chức vụ: Phó Phòng Khách hàng cá nhân - Chi nhánh Rạch Giá. (Có mặt)
* Bị đơn: Bà Châu Thị Kim N, sinh năm: 1979. (Vắng mặt)
Ông Đỗ Quốc P, sinh năm: 1979. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: P3-15 đường 3/2, khu phố 5, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
Hội đồng xét xử đồng thống nhất 3/3, quyết định:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 93; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ: Điều 351; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ: Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26; điểm đ mục 1.3 phần II Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 24/02/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP KL.
Buộc ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL tổng số tiền vay vốn gốc và lãi tính đến ngày 24/02/2025 là: 134.083.710 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm mười đồng).
Kể từ ngày 25/02/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N còn phải trả cho Ngân hàng TMCP KL khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký trên số nợ gốc tương ứng với thời gian chưa thi hành án, nhưng phải phù hợp quy định của pháp luật.
Trường hợp trong các Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kì của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Nếu ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không hết nợ, thì Ngân hàng TMCP KL có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi bảo đảm để thu hồi nợ vay là:
- + 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 68X1-161.33, nhãn hiệu SYM, màu xám bạc, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 038855 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 18/9/2017, đứng tên ông Nguyễn Long Thái, ông Thái bán cho bà Châu Thị Kim N ngày 09/01/2018.
- + 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 68M5-1742, nhãn hiệu HONDA, màu đỏ đen, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 014113 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 16/8/2013, đứng tên ông Đỗ Quốc P.
- + 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 68S1-160.09, nhãn hiệu YAMAHA, màu trắng xanh, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 014113 do Công an tỉnh Kiên Giang cấp ngày 20/01/2009, đứng tên bà Châu Thị Kim N.
Nếu tài sản kê biên, phát mãi không đủ để thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP KL, thì ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP KL đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Đỗ Quốc P và bà Châu Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là: 6.704.185 đồng (Sáu triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn một trăm tám mươi lăm đồng).
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP KL số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.522.000 đồng (Một triệu năm trăm hai mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001348 ngày 30/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
[3] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nghị án kết thúc vào hồi ....... giờ ....... phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Thị Lệ Lê Thị Mỹ |
Vũ Thị Phương Thanh |
* Nơi nhận:
- - VKSND TP. Rạch Giá;
- - Chi cục THSDA TP. Rạch Giá;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Vũ Thị Phương Thanh |
Bản án số 14/2025/DSST. ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2025/DSST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP KL khởi kiện yêu cầu bà Châu Thị KIm N và ông Đỗ Quốc P trả tiền nợ vay tín dụng
