TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU NGHỆ AN Bản án số: 14/2025/HSST Ngày: 24-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Công Hải.
- Bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên
Ngày 24/02/2025, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến - Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến - Trại tạm giam Công an N theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Lê Phú P, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1979 tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đức H (Đã chết) và bà Đinh Thị C; Có vợ là Hoàng Thị H1 (Đã chết) và 04 con; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 và tạm giam từ ngày 25/12/2024 cho đến nay; Có mặt.
Người bào chữa: Bà Phan Thị T. Trợ giúp viên pháp lý. Chi nhánh số 1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 16 giờ ngày 17/12/2024, Lê Phú P gọi điện thoại cho một người đàn ông tên C1 (P không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy thì C1 đồng ý và hẹn P đi đến khu vực cầu nối từ xã D sang xã D, huyện D để lấy ma túy. P điều khiển xe máy BKS 37B1-699.20 đi đến điểm hẹn. Khi đến nơi, P đưa cho C1 số tiền 1.000.000đ thì C1 đưa cho P một gói được bọc bằng vỏ bao nilon màu hồng, bên trong có 10 viên ma túy hồng phiến. P đưa số ma túy về nhà và sử dụng hết 05 viên. Số còn lại, P bỏ vào bao nilon ban đầu, bỏ vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe máy đi đến xã D để chơi. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, khi P đi đến đoạn đường liên xóm thuộc khu vực xóm M, xã D thì bị tổ công tác Công an xã D phối hợp với Công an xã D tiến hành kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ số ma túy cùng xe máy và điện thoại di động.
Tại bản Kết luận giám định số 21/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ của Lê Phú P gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) và có tổng khối lượng là 0,5g.
Đối với người đàn ông tên C1 là người bán ma túy cho P nhưng do không có thông tin, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý trong vụ án này.
Cáo trạng số 24/CT-VKS-DC ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã quyết định truy tố bị cáo Lê Phú P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Lê Phú Phong P từ 15 tháng đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS, tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng 01 vỏ bao nilon và vỏ bao niêm phong vật chứng, trả lại chiếc xe máy cho bị cáo. Đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày trong bản bào chữa: Nhất trí với tội danh và điều luật như truy tố của Viện kiểm sát. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người bào chữa: Người bào chữa có đơn xin xét xử vắng mặt và đã gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Ngoài ra, tại phiên tòa, bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Căn cứ Điều 291 BLTTHS, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Phan Thị T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào chiều ngày 17/12/2024, bị cáo đã liên lạc và trao đổi bằng điện thoại với một người đàn ông tên C1 về việc mua ma túy để sử dụng. Sau đó, khi gặp nhau tại khu vực cầu nối từ xã D, sang xã D, huyện D thì P nhận của C1 một gói nilon bên trong chứa 10 viên ma túy hồng phiến. Sau khi nhận gói ma túy thì P đưa về nhà và sử dụng hết 05 viên. Số ma túy còn lại thì P gói lại, cất vào túi quần và đi đến địa bàn xã D để chơi. Trên đường sang thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ số ma túy cùng 01 điện thoại di động và 01 chiếc xe máy.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,5g ma túy Methaphetamine với mục đích để sử dụng. Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung cũng như Methamphetamine nói riêng là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy nhưng bị cáo không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện D đã thu giữ của các bị cáo 0,5g Methamphetamine, 01 vỏ bao nilon màu hồng, 01 điện thoại di động và 01 chiếc xe máy.
Đối với số ma túy đã trích 0,2g gửi giám định, còn lại 0,3g Methamphetamine cùng 01 vỏ bao nilon màu hồng và phong bì niêm phong vật chứng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 10 màu xanh, đây là phương tiện bị cáo dùng liên lạc để mua ma túy, cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX, BKS 37B1-699.20. Đây là tài sản chung hợp pháp của Lê Phú P và gia đình, cần trả lại cho chủ sở hữu.
[3] Về án phí: Lê Phú P là cá nhân thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí được lập theo đúng quy định. Cần căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14, miễn tiền án phí HSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lê Phú P 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2024.
- Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 10 màu xanh. Tịch thu tiêu hủy 0,2g Methamphetamine cùng 01 vỏ bao nilon màu hồng và phong bì niêm phong vật chứng. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave RSX, BKS 37B1-699.20 (Tất cả có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 10 giờ ngày 21/01/2025 giữa cơ quan Điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).
- Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |
Bản án số 14/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 01 năm 06 tháng tù
