|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/DSST Ngày 24 - 02 - 2025 |
|
|
Về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Duyên
2. Ông Nguyễn Văn Triệu
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Khánh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Hoàng Phúc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Minh P, sinh năm 1981
Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của bà Trần Minh P: Bà Trần Thị Việt T, sinh năm 1996 là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 02/10/2024) (có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân Thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh)
Địa chỉ: Khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn:
1/ Bà Võ Thị Thúy H, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)
2/ Ông Huỳnh Công B, sinh năm 2002 (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2024 và đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2024, bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt, đại diện nguyên đơn bà Trần Minh P là bà Trần Thị Việt T trình bày:
Vào năm 2023, bà H có tham gia dây hụi do bà P làm đầu thảo, loại hụi 500.000 đồng/tháng, mỗi tuần khui 01 lần, bà H đã hốt với số tiền 7.100.000 đồng, bà H có ký biên nhận.
Ngoài ra, bà H còn tham gia dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tuần khui 01 lần bà H hốt với số tiền 22.760.000 đồng (bà H, ông Huỳnh Công B là con có ký biên nhận).
Sau đó bà H có đóng được một số tiền, còn nợ lại 17.000.000 đồng ở hai dây nhưng bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hụi.
Nay bà P yêu cầu bà H, ông B trả lại số tiền 17.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Theo bản tự khai ngày 12/12/2024 bị đơn bà Võ Thị Thúy H trình bày như sau: Bà có hốt hụi 03 dây hụi vào ngày 09/6/2023, ngày 06/6/2023 và ngày 27/6/2023 của nguyên đơn bà Trần Minh P tổng số tiền 27.400.000 đồng. Sau thời gian hốt hụi bà đã đóng tiền hụi cho bà P số tiền 30.210.000 đồng. Bà không đồng ý trả số tiền hụi 17.000.000 đồng cho bà P.
Theo bản tự khai ngày 05/02/2025 bị đơn ông Huỳnh Công B trình bày: Ngày 13/6/2025 bà P có đến nhà giao hụi loại hụi 2.000.000 đồng và yêu cầu ông ký tên trong biên nhận do mẹ ông là bà H hốt hụi cần người ký làm chứng. Ngày 27/6/2023 bà P có đến nhà giao hụi, lúc đó bà H không có ở nhà nên ông có ký vào biên nhận hốt hụi 500.000 đồng. Nay ông không đồng ý cùng thanh toán vì ông chỉ ký làm chứng, ông không có trách nhiệm đóng hụi cùng bà H.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Thúy H và ông Huỳnh Công B trả số tiền hụi tổng cộng 17.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh:
Về tố tụng: Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 26, 68, 70, 71, 72, 86, 177, 196, 208 và Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Qua các lời khai, chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhận thấy:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi còn thiếu tổng cộng 17.000.000 đồng, là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, theo biên nhận tiền hụi ngày 26/6/2023 thể hiện bà H có nhận số tiền hụi 7.100.000 đồng và biên nhận tiền hụi ngày 11/6/2023 thể hiện bà H, ông B có nhận số tiền hụi 22.760.000 đồng (tổng cộng số tiền nợ hụi là 29.860.000 đồng). Cả 02 niên nhận nợ trên có chữ ký xác nhận của bà H, ông B. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có lời trình bày thừa nhận bị đơn có đóng được một số tiền và hiện nay còn nợ lại 17.000.000 đồng, lời thừa nhận này của nguyên đơn có lợi cho bị đơn nên không phải chứng minh và phù hợp với quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 BLTTDS.
Phía bị đơn cho rằng có tham gia góp hụi với bà Trần Minh P, tổng số tiền bà hốt hụi của bà P là 27.400.000 đồng. Bà có chuyển tiền đóng hụi cho bà P nhiều lần với số tiền 30.210.000 đồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật TTDS quy định về nghĩa vụ chứng minh, cụ thể “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” cho thấy nghĩa vụ chứng minh lời phản bác của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn là nghĩa vụ của bị đơn. Ngày 18/12/2024 Tòa án có văn bản yêu cầu bà Võ Thị Thúy H cung cấp cho Tòa án các biên nhận, văn bản, giấy tờ hoặc tài liệu chứng cứ khác thể hiện việc bà H hốt hụi của bà P số tiền 27.400.000 đồng và việc chuyển tiền đóng hụi cho bà P sau khi hốt hụi với số tiền 30.210.000 đồng. Mặc dù, phía bị đơn đã được Tòa án tống đạt, hợp lệ văn bản yêu cầu cung cấp chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 177 Bộ luật TTDS nhưng bị đơn vẫn không có lời trình bày, không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật TTDS và cũng không có văn bản trình bày lý do không cung cấp được chứng cứ để Tòa án xem xét. Do đó chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm 02 biên nhận tiền hụi ngày 26/6/2023 và ngày 11/6/2023 là chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu ông Trần Công B1 (con bà H) cùng trả số nợ hụi trên vì có ký tên vào biên nhận tiền. Tuy nhiên, tại phiên tòa nguyên đơn thừa nhận ông B1 không có tham gia góp hụi, trong suốt quá trình bà H chơi hụi từ trước đến nay thì việc theo dõi hụi, hốt hụi, đóng hụi chỉ giữa bà P với bà H. Nên không có cơ sở buộc ông B1 cung trả nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu đối với bà Võ Thị Thúy H và ông Trần Công B1. Nên đình chỉ đối với yêu cầu ông Huỳnh Công B2 cùng trả nợ theo quy định tại Điều 244 BLTTDS.
Từ các lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần.
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, 227, 228, 246 Bộ luật TTDS; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Minh P:
Buộc bị đơn bà Võ Thị Thúy H trả số tiền nợ hụi cho bà Trần Minh P là 17.000.000 đồng. Về lãi suất, nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: : Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy đây là quan hệ giao dịch dân sự góp hụi giữa nguyên đơn và bị đơn nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. Bị đơn cư trú tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Võ Thị Thúy H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Theo thông báo thụ lý vụ án có thể hiện bị đơn ông Huỳnh Công B2. Tuy nhiên theo đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2024 của nguyên đơn không yêu cầu ông Huỳnh Công B2 cùng thanh toán số nợ nên Hội đồng xét xử không đưa ông Huỳnh Công B2 vào tham gia tố tụng tại phiên tòa hôm nay.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo lời trình bày của đại diện nguyên đơn và bị đơn: bà H có tham gia chơi hụi do bà P làm đầu thảo 02 dây hụi: loại hụi 500.000 đồng/tháng, mỗi tuần khui 01 lần, bà H đã hốt với số tiền 7.100.000 đồng, bà H có ký biên nhận và dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tuần khui 01 lần bà H hốt với số tiền 22.760.000 đồng (bà H, ông Huỳnh Công B là con có ký biên nhận).
Nguyên đơn bà Trần Minh P cho rằng bà H có thực hiện nghĩa vụ đóng hụi chết và còn nợ lại 17.000.000 đồng nên yêu cầu bà H trả lại số nợ hụi là 17.000.000 đồng.
Đối với bị đơn bà Võ Thị Thúy H: Theo bản tự khai ngày 12/12/2024 của bị đơn bà Võ Thị Thúy H cho rằng bà có hốt hụi 03 dây hụi vào ngày 09/6/2023, ngày 06/6/2023 và ngày 27/6/2023 của nguyên đơn bà Trần Minh P tổng số tiền 27.400.000 đồng. Sau thời gian hốt hụi bà đã đóng tiền hụi cho bà P số tiền 30.210.000 đồng. Bà có nộp cho Tòa án 03 giấy hụi thể hiện: “Hụi 500 k khui thứ 3 22 thể hiện số tiền 4.520.000..., Hụi tháng 02 triệu khui thứ 5 ngày 9/5/2023 thể hiện số tiền cuối 16.460...; Hụi tuần 500k thứ ba hốt được 6.420.000 đồng...”. Qua 03 giấy hụi bà H nộp xét thấy số tiền thể hiện ở cuối trang là số tiền còn lại sau khi trừ đi những phần hụi đã nộp, không phải số tiền thực tế bà H đã hốt hụi, ngoài ra giấy hụi chỉ thể hiện chữ viết không có chữ ký của bà P và bà H nên không có cơ sở chấp nhận lời nại ra của bà H về số tiền bà đã hốt hụi bằng 27.400.000 đồng.
Đối với lời nại ra, bà H có đóng tiền hụi qua các lần chuyển khoản ngày 10/5/2023 chuyển 6.600.000 đồng; ngày 24/5/2023 chuyển 2.560.000 đồng; ngày 30/5/2023 chuyển 1.050.000 đồng; ngày 20/6/2023 chuyển 1.300.000 đồng; ngày 21/6/2023 chuyển 3.100.000 đồng; ngày 04/7/2023 chuyển 1.400.000 đồng; ngày 11/7/2023 chuyển 9.910.000 đồng; ngày 18/7/2023 chuyển 1.430.000 đồng; ngày 25/7/2023 chuyển 1.430.000 đồng; ngày 01/8/2023 chuyển 1.430.000 đồng. Các giấy chuyển khoản của bà H không thể hiện nội dung giao dịch, bà P không thừa nhận các giao dịch này, do đó không chấp nhận lời nại ra của bà H. Ngoài các tài liệu chứng cứ trên, bà H không có tài liệu chứng cứ nào khác.
Căn cứ vào biên nhận hụi của bà Trần Minh P cung cấp cho Tòa án thể hiện thể hiện bà H có hốt số tiền ở hai dây hụi 7.100.000 đồng, bà H có ký biên nhận và dây hụi 2.000.000 đồng, mỗi tuần khui 01 lần bà H hốt với số tiền 22.760.000 đồng (bà H, ông B là con có ký biên nhận). Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có lời trình bày thừa nhận bị đơn có đóng được một số tiền và hiện nay còn nợ lại 17.000.000 đồng, lời thừa nhận này của nguyên đơn có lợi cho bị đơn nên không phải chứng minh và phù hợp với quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 BLTTDS.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu ông Trần Công B1 (con bà H) cùng trả số nợ hụi trên vì có ký tên vào biên nhận tiền. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn thừa nhận ông B1 không có tham gia góp hụi, trong suốt quá trình bà H chơi hụi từ trước đến nay thì việc theo dõi hụi, hốt hụi, đóng hụi chỉ có bà H, không có ông B1. Nên không có cơ sở buộc ông B1 cùng trả nợ với bà H. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà P buộc bà H có trách nhiệm thanh toán số nợ 17.000.000 đồng cho bà P.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thúy H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 72, 147, 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 357 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 15, Điều 16 và Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Minh P. Buộc bà Võ Thị Thúy H có trách nhiệm trả số tiền 17.000.000 đồng cho bà Trần Minh P.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Buộc bà Võ Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 850.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Bà Trần Minh P được hoàn trả lại 425.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009482 ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Hồng Nhân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 14/2025/DSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 14/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Minh P. Buộc bà Võ Thị Thúy H có trách nhiệm trả số tiền 17.000.000 đồng cho bà Trần Minh P.