Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST

Ngày 21/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hiền.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Nhân và Ông Trần Thế Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang V - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu tại Trạm giam Công an tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 07/02/2025, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN C, sinh ngày 02/3/1989, tại tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Hộ khẩu bộ, Tổ dân phố A, Phường M, Thành phố T, Tỉnh Tuyên Quang; Thẻ CCCD số: [...]; Cấp ngày: 29/5/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C1; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960; và bà Trần Thị H, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.

+/ Nhân thân của bị cáo: Ngày 19/6/2007, bị Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tuyên Quang Quyết định đưa người nghiện ma tuý đối với Nguyễn Văn C vào cai nghiện ma tuý bắt buộc tại Công trường 06, thị xã T, tỉnh Tuyên Quang.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 05/10/2024, Nguyễn Văn C, sinh năm 1989, ở tại Hộ N, tổ dân phố A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đi xe ôm từ nhà đến khu vực bến xe khách T để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, C đi bộ vào quán nước gần cổng bến xe thì gặp người đàn ông tên H1 làm nghề xe ôm (C quen biết từ trước nhưng không biết họ, tên đệm, địa chỉ), qua trao đổi C mua của H1 300.000đ ma tuý tổng cộng “Ngựa” gồm 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu đỏ và 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa chất bột màu đỏ. Sau khi mua được ma túy, C cất vào trong túi quần bên trái rồi đi bộ về nhà trên đường đi đến khu vực cổng chợ T thuộc tổ dân phố C, phường T, thành phố T thì bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T kiểm tra, phát hiện C đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ, niêm phong vật chứng thu giữ và xét nghiệm tìm chất ma tuý đối với C, kết quả (+) dương tính có chất ma tuý trong cơ thể (C khai nhận đã sử dụng ma tuý vào ngày 01/10/2024, nguồn gốc ma tuý cũng mua của H1).

Kết luận giám định số 1349/KL-KTHS ngày 8/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: 2 viên nén màu đỏ và chất bột màu đỏ gửi giám định đều là chất ma tuý, loại Methamphetamine; tổng khối lượng 0,198g (không phẩy một chín tám gam).

Trong giai đoạn điều tra bị cáo Nguyễn Văn C nhất trí với kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T.

Cáo trạng số: 13/CT-VKSTP ngày 09 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C, phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Về hình phạt: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/10/2024 .

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng do bị cáo dùng vào việc tàng trữ, sử dụng trái phép 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Văn C và thành phần tham gia có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 2 viên nén màu đỏ là chất ma tuý có khối lượng 0,174g, sau giám định khối lượng còn lại 0,088g.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn C: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo là người nghiện nên bị cáo đã mua ma tuý về tàng trữ để sử dụng cho chính bản thân. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ; Kết luận giám định số 1349/KL-KTHS ngày 8/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, tại tổ dân phố C phường T, thành phố T, bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,198g (không phẩy một chín tám gam) Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố T kiểm tra bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

[3]. Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[4]. Căn cứ vào số lượng ma tuý bị cáo tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5]. Xét yếu tố cấu thành của tội phạm: Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên phải nhận thức rõ trong tình hình hiện nay ma túy đang là nguyên nhân chính làm gia tăng các loại tội phạm nguy hiểm, bạo lực trong gia đình và xã hội, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá của con người, gây sói mòn đạo lý, tàn phá cuộc sống của những gia đình có người bị nghiện, gây thiệt hại về kinh tế xã hội, nghiêm trọng hơn, ma túy còn là tác nhân chính sinh ra căn bệnh HIV - AIDS đang ngày càng phát triển mạnh, do đó hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng cho cá nhân, bị cáo C đã cố ý coi thường pháp luật để mua ma tuý về tàng trữ trái phép như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy đang diễn ra rất phức tạp và nguy hiểm trong tình hình hiện nay.

[6]. Xét tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng ngày 19/6/2007, Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định đưa người nghiện ma tuý vào cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C tại Công trường 06, thị xã T, tỉnh Tuyên Quang thời hạn từ 12 đến 24 tháng, bị cáo không lấy đó làm bài học tự cải tạo để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi mua ma tuý về tàng trữ trái phép để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải và hứa sẽ quyết tâm cai nghiện trong thời gian thi hành án. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[7]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có công việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về vật chứng: Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng do bị cáo dùng vào việc tàng trữ, sử dụng trái phép, 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Văn C và thành phần tham gia có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 2 viên nén màu đỏ là chất ma tuý có khối lượng 0,174g, sau giám định khối lượng còn lại 0,088g.

[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

[10]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn C, Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 002183 ngày 15/10/2024, bằng hình thức phạt tiền mức 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

[11]. Theo lời khai của bị cáo trong vụ án còn có tình tiết đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma túy cho bị cáo C, do không xác định được họ đệm, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

  2. Hình phạt: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/10/2024.

  3. Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 2 viên nén màu đỏ là chất ma tuý, loại Methamphetamine có khối lượng 0,174g, sau giám định còn lại 0,088g.

    • - Đặc điểm, tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

  4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Báo cho Bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND TP Tuyên Quang;
  • - Công an TP Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS TP. Tuyên Quang;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thu Hiền

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lý Thị Nhân Trần Thế Dũng Vũ Thu H2
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 14/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN CƯỜNG PHẠM TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger