|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 14/2025/HSST Ngày 20 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Mai
Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đình Chúc.
Ông Phùng Văn Hồng.
Ông Nguyễn Duy Tài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/HSST-QĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Dương Đức C,
sinh ngày 20 tháng 10 năm 1988; nơi cư trú: TDP H, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C1 và bà Phùng Thị L; có vợ là Dương Thu H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Năm 2011, sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường Đ, thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 750.000 đồng. Năm 2012, Dương Đức C đã chấp hành nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H1 - Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V; địa chỉ: Số D đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
- Bị hại:
- + Anh Trần Minh C2, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Y, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
- + Anh Lương Việt H2, sinh năm 2002; địa chỉ: TDP N, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
- + Chị Nguyễn Thị Trang N, sinh năm 1983; địa chỉ: TDP Đ, phường Đ; thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1991; địa chỉ: TDP H, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Đức C làm nghề kinh doanh, môi giới bất động sản từ năm 2018. Quá trình kinh doanh, môi giới bất động sản, Dương Đức C đã có nhiều mối quan hệ, tham gia các hội nhóm kinh doanh bất động sản nên biết nhiều người làm kinh doanh bất động sản thường góp vốn cùng nhau để kịp thời mua các bất động sản rồi bán kiếm lời. Từ khoảng tháng 10/2021, do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, C đã nảy sinh ý định sử dụng thông tin về các thửa đất do người khác giao bán trên mạng Internet hoặc do Cầu tự nêu ra thông tin các thửa đất không có thực để chiếm đoạt tiền của các cá nhân góp vốn mua đất, kinh doanh bất động sản gồm: Trần Minh C2, Lương Việt H2 và Nguyễn Thị Trang N, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Bị cáo Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Trần Minh C2 và anh Lương Việt H2 bằng hình thức góp vốn mua đất tại phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc:
Từ khoảng năm 2021, Cầu là trưởng nhóm buôn bán bất động sản gồm C và các anh Trần Minh C2, Lương Việt H2 và một số cá nhân khác. Dương Đức C đã có nhiều lần chia sẻ thông tin và cùng anh C2, H2 mua bán các bất động sản nên anh C2 và anh H2 tin tưởng C. Đến khoảng cuối tháng 09/2021, C thu thập từ mạng Internet được thông tin các trang 2, trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 822 tờ bản đồ 20 và thửa đất 665B tờ bản đồ 21 đều có địa chỉ tại TDP M, K, V, Vĩnh Phúc, tổng diện tích 2 thửa là hơn 200m² và thông tin về các thửa đất số 477, 478, 479 tờ bản đồ số 18 tại TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, diện tích mỗi thửa khoảng hơn 80m².
Do cần tiền trả nợ và tiêu sài cá nhân nên C nảy sinh ý định sử dụng thông tin, hình ảnh các thửa đất trên để lừa anh C2, anh H2 chuyển tiền góp vốn mua đất cho C. Mặc dù Dương Đức C chưa biết chủ sở hữu của các thửa đất là ai nhưng C đã lần lượt cho anh C2 và anh H2 xem ảnh chụp các trang 2, trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 822 tờ bản đồ 20 và thửa đất 665B tờ bản đồ 21 nêu trên và nói dối với anh C2, anh H2 là C quen biết chủ của thửa đất; chủ đất đang cần tiền, muốn bán với giá rẻ là hơn 2 tỷ đồng và C sẽ ép giá xuống thấp hơn. Cầu rủ anh C2, anh H2 góp vốn để mua chung thửa đất này rồi bán lại cho người khác với giá cao hơn để kiếm lời. Cầu nói giấy chứng nhận quyền sử dụng
2
đất của thửa đất này là loại cũ, chưa theo chuẩn VN2000 và người chủ sử dụng đất cần số tiền lớn để đặt cọc. Đồng thời, căn cứ thông tin trên bìa, C đã đưa anh C2 và anh H2 đi xem thực địa 02 thửa đất trên. Do thấy vị trí của 02 thửa đất này đẹp và rẻ nên anh C2 và anh H2 đều đồng ý góp tiền để mua. Trong đó anh C2 góp vốn 150.000.000 đồng và anh H2 góp vốn 250.000.000 đồng. Buổi sáng ngày 06/10/2021 tại quán nước vỉa hè đường L, phường K, thành phố V, anh H2 đã đưa 250.000.000 đồng tiền mặt cho C; ngày 11/10/2021, anh C2 đã chuyển 150.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng TMCP C5 (V) số [...] của anh C2 vào tài khoản Ngân hàng TMCP C5 (V) số [...] của C để mua 02 thửa đất tại TDP M phường K nêu trên.
Đến ngày 07/10/2021, C tiếp tục lần lượt đưa anh C2 và anh H2 đi xem vị trí ba thửa đất số 477, 478, 479 tờ bản đồ số 18 tại TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, diện tích mỗi thửa khoảng hơn 80m2. C nói với anh C2 và anh H2 là chủ sử dụng đất của thửa đất số 477, 478 tờ bản đồ số 18 đang có nhu cầu muốn bán với giá là 680 triệu đồng/1 thửa, C rủ anh C2 và anh H2 góp vốn để mua chung hai thửa đất này sau đó có thể bán được với giá cao hơn. C nói: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là loại cũ, chưa theo chuẩn VN2000, người chủ sở hữu đất cần số tiền lớn để đặt cọc”. Do thấy vị trí của các thửa đất này đẹp và rẻ nên anh C2 và anh H2 đều đồng ý góp tiền để mua, trong đó, anh C2 góp 300.000.000 đồng, anh H2 góp 400.000.000 đồng. Đến ngày 08/10/2021, anh C2 chuyển khoản tổng số 200.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng TMCP C5 (V) số [...] của anh C2 vào tài khoản Ngân hàng TMCP C5 (V) số100868110425 của C. Buổi trưa ngày 10/10/2021, tại nhà của Dương Đức C ở TDP H, phường K, thành Phố V, anh C2 đưa thêm tiền mặt cho Cầu là 100.000.000 đồng; anh H2 đưa tiền mặt cho Cầu là 400.000.000 đồng để đặt cọc mua 02 thửa đất số 477 và 478 tại TDP T, phường K.
Ngày 16/10/2021, C tiếp tục gọi điện thoại cho anh C2, nói là chủ sở hữu của thửa đất số 479, tờ bản đồ 18 tại TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đã đồng ý bán, C bảo anh C2 chuyển 50.000.000 đồng góp vốn cho C để đặt cọc thì anh C2 đồng ý. Sau đó anh C2 đã chuyển 50.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng TMCP C5 (V) số [...] của anh C2 vào tài khoản Ngân hàng TMCP C5 (V) số100868110425 của C để đặt cọc mua thửa đất trên.
Toàn bộ các lần giao nhận tiền giữa anh C2, anh H2 với Dương Đức C như nêu trên đều không làm hợp đồng, văn bản gì. Sau khi nhận được số tiền từ anh Trần Minh C2 và anh Lương Việt H2, Dương Đức C đã sử dụng để trả nợ, chi tiêu cá nhân hết mà không sử dụng để mua các thửa đất như đã thỏa thuận với anh C2, anh H2 trước đó. Tổng số tiền mà Dương Đức C đã chiếm đoạt của anh Trần Minh C2 là 500.000.000 đồng, chiếm đoạt của Lương Việt H2 là 650.000.000 đồng.
Vụ thứ 2:
Bị cáo Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Trang N:
3
Từ khoảng cuối năm 2021, Dương Đức C và chị Nguyễn Thị Trang N quen biết nhau, hay liên lạc với nhau để trao đổi các thông tin liên quan đến việc mua bán các bất động sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Từ khoảng đầu năm 2022, chị N và Dương Đức C đã cùng nhau góp vốn mua bán một số thửa đất và có lãi nên chị N tin tưởng vào Cầu, khi C nói có thửa đất nào có tiềm năng, có khả năng sinh lời thì chị N sẽ chuyển ngay tiền cho C để góp vốn đầu tư. Sau đó do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, C đã đưa ra thông tin gian dối về một số bất động sản để chị N chuyển tiền góp vốn rồi Cầu chiếm đoạt, cụ thể:
- Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt 343.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Trang N thông qua việc lừa góp vốn mua thửa đất có diện tích 217,5m2 tại thôn C và 06 thửa đất ở thôn B đều thuộc xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc
Khoảng cuối tháng 3/2022, C chơi thân, làm ăn chung với anh Nguyễn Duy K, SN: 1989, trú tại: TDP N, phường N, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc, C nghe anh K nói anh K đang giao bán 6 thửa đất ở thôn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (C không biết chính xác thông tin về các thửa đất này như thế nào, không biết chủ sở hữu là ai, không biết giá trị thửa đất này là bao nhiêu tiền). Lúc này, C đang gặp khó khăn về tài chính, cần tiền trả nợ và thấy chị N đang tin tưởng tuyệt đối vào Cầu nên C đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị N. Mặc dù C không trao đổi, không thỏa thuận gì với anh K nhưng C vẫn đưa thông tin gian dối với chị N là C có cổ phần liên quan đến 6 thửa đất ở thôn B và sẽ cho chị N góp vốn cùng 10% là 175.750.000 đồng. Chị N đồng ý nên đến ngày 29/3/2022, chị N đã chuyển 175.750.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số [...] đến tài khoản ngân hàng V số [...] của Dương Đức C. Sau khi nhận được số tiền trên, C đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Một vài ngày sau, C tiếp tục nghĩ cách để lừa thêm được tiền của chị N. Cầu nói dối với chị N là chị N lãi được 17.000.000 đồng từ việc mua bán 6 thửa đất ở thôn B nêu trên.
Đến khoảng đầu tháng 4/2022, C truy cập mạng internet thấy có hình ảnh chụp mặt bên trong của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 865, tờ bản đồ số 45, diện tích 217,5m2, địa chỉ: thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Cầu đã gửi hình ảnh của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho chị N qua ứng dụng Z và nói với chị N là C có cổ phần trong thửa đất nêu trên. Giá thửa đất là 1.700.000.000 đồng và cho chị N góp vốn 20% tức là 340.000.000 đồng thì chị N đồng ý và nói sẽ chuyển tiền sau. Tính đến thời điểm này, thực tế C đang cầm số tiền 175.750.000 đồng của chị N, nhưng C nói chị N có 192.750.000 đồng (gồm 175.500.000 đồng tiền chị N chuyển cho C và 17.000.000 đồng C nói dối chị N là tiền lãi), chị N chỉ phải đưa thêm cho C 147.250.000 đồng là đủ tiền để góp vốn mua thửa đất có diện tích 217,5m2 nêu trên. Đến ngày 07/4/2022, chị N đã chuyển 147.250.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số [...] đến tài khoản ngân hàng V số [...] của Dương Đức C để góp vốn mua thửa đất có diện tích 217,5m2 ở thôn C, xã H, huyện B. Một thời gian sau, chị N có hỏi C
4
về tình hình việc mua bán, chuyển quyền Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất có diện tích 217,5m2 ở Chùa T, H nhưng C vẫn nói dối với chị N là đang triển khai, đang liên hệ với cơ quan chức năng để làm thủ tục sang tên đổi chủ. Khi đó C đang rất cần tiền để chi tiêu cá nhân, trả nợ nên C đã tiếp tục nói dối với chị N cần chuyển thêm tiền cho C 20.000.000 đồng để làm các thủ tục liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, ngày 20/6/2022, chị N đã chuyển 20.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số [...] đến tài khoản ngân hàng V số [...] của Dương Đức C. Sau khi nhận được số tiền trên, thì C đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết mà không sử dụng để mua thửa đất số 865, tờ bản đồ số 45, diện tích 217,5m2 ở thôn C, xã H, huyện B như đã thỏa thuận với chị N.
Tổng số tiền Dương Đức C đã lừa đảo chiếm đoạt của chị N thông qua việc mua bán thửa đất có diện tích 217,5m2 tại thôn C và 06 thửa đất ở thôn B đều thuộc xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc là: 175.750.000 đồng + 147.250.000 đồng + 20.000.000 đồng = 343.000.000 đồng.
- Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt 260.835.000 đồng của chị Nguyễn Thị Trang N thông qua việc lừa góp vốn mua 02 thửa đất số 742 và 744 tờ bản đồ 17 thuộc thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và Căn hộ liền kề CL 17-36 thuộc Khu đô thị S thuộc phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
Khoảng đầu tháng 7/2022, C nghe nói anh Dương Thanh H3 -SN: 1992, trú tại: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (là người làm trong hội nhóm mua bán bất động sản cùng với C) đã đặt cọc mua thửa đất số 742 và 744 tờ bản đồ 17 thuộc thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, trong thời gian chờ làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh H3 đã rao bán 02 thửa đất nêu trên. C không hỏi anh H3 cho làm ăn, rao bán cùng, cũng không liên hệ với chủ sở hữu thửa đất hay bất kỳ ai liên quan đến việc mua bán các thửa đất này, C chỉ hỏi xin anh H3 hình ảnh chụp Bản hợp đồng đặt cọc tiền mua bán 02 thửa đất nêu trên để tìm hiểu. Sau đó, C đã gửi hình ảnh này cho chị N qua ứng dụng Zalo và tiếp tục đưa ra thông tin gian dối là C đang có cổ phần trong 02 thửa đất này. C nói với chị N rằng sẽ cho chị N góp vốn 10% là 85.000.000 đồng và chị N phải đưa trước 30.000.000 đồng để đặt cọc. Để tăng thêm lòng tin cho chị N thì C nói C sẽ cho chị N 3.500.000 đồng, chị N chỉ việc chuyển cho C 26.500.000 đồng thì chị N đồng ý. Vào các ngày 14/7/2022 và 16/7/2022, chị N chuyển khoản cho C lần lượt 20.000.000 đồng và 6.500.000 đồng để nhờ C đặt mua 02 thửa đất số 742 và 744 tờ bản đồ 17 thuộc thôn B nêu trên. Sau khi nhận được tiền của chị N, C đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết, mà không sử dụng vào việc liên quan đến mua bán các thửa đất trên.
Khoảng tháng 4/2022, nhóm buôn bán bất động sản của C đã thống nhất mua lại hợp đồng mua bán Căn hộ liền kề CL 17-36 thuộc dự án Khu nhà ở đô thị S tại phường K và phường L, thành phố V, từ anh Trương Ngọc T, SN: 1986, trú tại: thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 21/4/2022, nhóm buôn bán bất động
5
sản của C đã đặt cọc 100.000.000 đồng để mua lại hợp đồng, trong đó C đã chuyển 10.000.000 đồng (tương ứng với 10% cổ phần Căn hộ liền kề CL 17-36) từ tài khoản ngân hàng V số [...] của C đến tài khoản ngân hàng V1 số [...] của anh Đỗ Văn H4, SN: 1992, trú tại: TDP N, thị trấn T, V, tỉnh Vĩnh Phúc (là người trong nhóm mua Căn hộ liền kề CL 17-36). Sau khi xác định bản thân có 10% cổ phần trong Căn hộ liền kề CL 17-36, do thấy chị N đang tin tưởng tuyệt đối vào Cầu nên C đã tiếp tục đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị N bằng cách bảo chị N đưa tiền cho C để C góp cổ phần mua Căn hộ liền kề CL 17-36, sau Cầu đó sẽ tìm cách bán số cổ phần này đi để chiếm đoạt tiền của chị N.
Ngày 03/5/2022 chị N chuyển 103.875.000 đồng vào tài khoản của C để C góp tiền cùng đội nhóm mua lại hợp đồng mua bán Căn hộ liền kề CL 17-36 trên từ anh Trương Ngọc T. Sau khi nhận được tiền, C đã chuyển 93.387.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số [...] của C đến tài khoản ngân hàng V1 số [...] của anh H4 để anh H4 tập trung tiền của những người tham gia việc mua bán Căn hộ liền kề CL 17-36 rồi chuyển tiền cho anh Trương Ngọc T mua lại hợp đồng mua bán Căn hộ liền kề CL 17-36. Ngày 04/5/2022, đội nhóm buôn bán bất động sản của C do anh Phùng Văn T1 là đại diện đã cùng với Công ty Cổ phần Đ đã cùng nhau lập Hợp đồng mua bán nhà ở riêng lẻ số CL 17.3-36/2022/HĐMBNO/T&T để mua Căn hộ liền kề CL 17-36 nêu trên.
Đến khoảng cuối tháng 9/2022, C bảo chị N chuyển cho C 48.260.000 đồng để đóng tiền vào tiền giai đoạn 2 của Căn hộ liền kề CL 17-36. Do trước đó, ngày 11/9/2022 chị N đã chuyển cho C 10.000.000 đồng để đặt cọc mua thửa đất gần trường Trung học phổ thông T5 thuộc phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng sau đó chị N đã rút cọc 10.000.000 đồng để chuyển số tiền này vào giai đoạn 2 để mua Căn hộ liền kề CL 17-36. Đến ngày 26/9/2022, chị N đã chuyển vào tài khoản ngân hàng của C 38.260.000 đồng. Sau đó C đã chuyển số tiền 48.260.000 đồng để cùng đội nhóm buôn bán bất động sản của mình nộp tiền giai đoạn 2 của Căn hộ liền kề số CL 17-36.
Tính đến ngày 26/9/2022, tổng số tiền chị N đã đưa cho Dương Đức C để có 10% cổ phần Căn hộ liền kề CL 17-36 là 152.135.000 đồng. Ngày 27/9/2022, C cần tiền để sửa lại sân vườn trong gia đình nhưng không có sẵn tiền nên C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của chị N có trong Cổ phần của Căn hộ liền kề CL 17-36. Do vậy, C đã bán lại 10% cổ phần tính đến thời điểm bán cho anh Trần Minh C2, SN: 1981, trú tại: Thôn Y, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 50.000.000 đồng. Anh C2 đồng ý mua và đã chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của vợ Cầu là Dương Thu H số tiền trên. Sau đó chị Dương Thu H đã sử dụng toàn bộ số tiền trên để mua vật tư sửa lại sân, vườn. Khi bán cổ phần của Căn hộ liền kề CL 17-36 này cho anh C2, C không nói cho chị N biết và C cũng không trả lại cho chị N số tiền 50.000.000 đồng bán cổ phần của Căn hộ liền kề CL 17-36 nêu trên.
6
Sau đó, mặc dù đã bán cổ phần của Căn hộ liền kề CL 17-36, nhưng C vẫn tiếp tục đưa ra thông tin gian dối, yêu cầu chị N chuyển tiền cho C để vào tiền các giai đoạn tiếp theo của Căn hộ nêu trên. Do đó, vào các ngày 06/11/2022, 14/11/2022, 05/12/2022, 09/12/2022, 05/01/2023, 24/02/2023, 25/02/2023, 01/3/2023 chị N đã chuyển vào tài khoản cho C 08 lần, với tổng số tiền là 82.200.000 đồng. Sau khi nhận được số tiền trên, C đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết mà không sử dụng để đầu tư làm ăn, mua bán đất đai hay góp vốn cổ phần tại bất kỳ căn hộ nào ở Khu đô thị S nữa.
Tổng số tiền mà C đã lừa đảo chiếm đoạt của chị N thông qua việc mua bán 02 thửa đất số 742 và 744 tờ bản đồ 17 thuộc thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và Căn hộ liền kề CL 17-36 thuộc Khu đô thị S thuộc phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc là: 26.500.000 đồng + 152.135.000 đồng + 82.200.000 đồng = 260.835.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà Dương Đức C đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Trang N là 343.000.000 đồng + 260.835.000 đồng = 603.835.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã xác minh liên quan đến các bất động sản mà Dương Đức C đã sử dụng để đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Kết quả điều tra cho thấy:
- - Đối với thửa đất số 477, tờ bản đồ số 18, diện tích 85,3m² tại Tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc: Quyền sử dụng đất tại thời điểm tháng 9/2021, tháng 10/2021 là của vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, SN: 1983 và bà Nguyễn Thị Thùy D, SN: 1984 cùng trú tại: Làng M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Đối với thửa đất số 478, tờ bản đồ số 18, diện tích 86,7m2 tại Tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc: Quyền sử dụng đất tại thời điểm tháng 9/2021, tháng 10/2021 là của vợ chồng ông Phạm Văn T3, SN: 1980, trú tại: xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và bà Dương Thị D1, SN: 1986, trú tại: xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Đối với thửa đất số 479, tờ bản đồ số 18, diện tích 86,8m² tại Tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc: Quyền sử dụng đất tại thời điểm tháng 9/2021, tháng 10/2021 là của bà Đặng Thị H5, SN: 1983, trú tại: xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Đối với thửa đất số 822, tờ bản đồ 20, diện tích 104m² tại Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc: Quyền sử dụng đất tại thời điểm tháng 9/2021, tháng 10/2021 là của vợ chồng ông Đỗ Văn H6, SN: 1982 và bà Nguyễn Thị L1, SN: 1985 cùng trú tại: xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Đối với thửa đất số 665B, tờ bản đồ 21, diện tích 108m² tại Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc: Quyền sử dụng đất tại thời điểm tháng
7
9/2021, tháng 10/2021 là của vợ chồng ông Đỗ Viết B, SN: 1955 và bà Hoàng Thị H7, SN: 1959 cùng trú tại: xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Đối với thửa đất số 865, tờ bản đồ số 45, diện tích 217,5m², địa chỉ: thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc: Quyền sử dụng thửa đất trên tại thời điểm tháng 04/2022 là của anh Lê Diên T4, SN: 1977, trú tại: TDP V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Đối với thửa đất số 742 và 744, tờ bản đồ số 17 thuộc thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc: Từ trước đến nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên đứng tên ông Kim Văn Ử (đã chết năm 2005), hiện ông Kim Văn C3 (là con trai ông Kim Văn Ử), SN: 1960, trú tại: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc đang quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Ngày 22/6/2022, ông Kim Văn C3 và anh Đỗ Văn H4, Dương Thanh H3 đã lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích 100m2 tách ra từ thửa đất số 742 và 744, tờ bản đồ số 17 thuộc thôn B. Sau đó, do không làm được thủ tục chia tách thửa và chuyển quyền sử dụng đất nên hai bên đã thống nhất hủy hợp đồng.
Làm việc với toàn bộ những người có tên trên, kết quả xác định: Những người trên không có bất kỳ liên quan gì đến Dương Đức C, không có thỏa thuận mua bán, không cung cấp bất kỳ hình ảnh, thông tin gì, không có bất kỳ giao dịch gì với Dương Đức C liên quan đến các thửa đất trên.
- - Đối với 06 thửa đất liền nhau ở thôn B đều thuộc xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc: Quá trình điều tra xác định: bị can, bị hại và những người liên quan đều trình bày về việc trước đây Dương Đức C đã từng sử dụng một số hình ảnh, thông tin liên quan đến 06 thửa đất liền nhau ở thôn B và đã đăng bài viết rao bán. Tuy nhiên, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra: bị can, bị hại và những người liên quan không cung cấp được các thông tin chi tiết, cụ thể hơn để xác định thông tin về chủ sở hữu 06 thửa đất này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm việc với UBND xã H để xác định thông tin về chủ sở hữu 06 thửa đất liền nhau thuộc thôn B. Kết quả: Không xác định được thông tin về chủ sở hữu của 06 thửa đất liền nhau, vì không có thông tin chi tiết.
- - Cơ quan điều tra tiến hành làm việc, xác minh tại Công ty cổ phần Đ, xác định: Dự án Khu nhà ở đô thị S tại phường K và phường L thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đủ điều kiện đưa vào kinh doanh nhà ở hình thành trong tương lai (Theo Quyết định số 1633/QĐ-UBND ngày 24/6/2021 của UBND tỉnh V về việc giao đất (đợt 2) và điều chỉnh giao đất đối với diện tích đã giao tại Quyết định số 3860/QĐ-UBND ngày 08/11/2016 của UBND tỉnh V theo điều chỉnh QHCT 1/500 tại Quyết định số 93/QĐ-UBND ngày 15/01/2021 của UBND tỉnh cho Công ty Cổ phần Đ thực hiện dự án Khu nhà ở đô thị tại phường K và phường L, thành phố V - Sky Garden; Văn bản số 400/SXD-QLNĐT&HT ngày 14/9/2022 của Sở Xây dựng tỉnh V). Đối với việc mua bán Căn hộ liền kề CL 17-36, thuộc dự án Khu đô
8
thị S, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc: Từ ngày 02/8/2021 đến ngày 04/5/2022 ông Trương Ngọc T, SN: 1986, trú tại: thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là người đứng tên trong các hợp đồng liên quan đến Căn hộ liền kề CL 17-36 (theo Hợp đồng vay vốn số CL17.3-36/2021/HĐVV-T&T và Thỏa thuận đặt chỗ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trên đất số CL17.3-36/2021/TTĐKMN-T&T). Khoảng cuối tháng 4/2022, ông Trương Ngọc T đã thỏa thuận và thống nhất bán lại các hợp đồng của Căn hộ liền kề CL 17-36 nêu trên cho anh Phùng Văn T1 (là đại diện cho nhóm buôn bán bất động sản của Dương Đức C). Từ ngày 04/5/2022, anh Phùng Văn T1 là người đứng tên trong các hợp đồng liên quan đến Căn hộ liền kề CL 17-36 (theo Hợp đồng vay vốn số CL17.3-36/2022/HĐVV-T&T và Thỏa thuận đặt chỗ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trên đất số CL17.3-36/2022/TTĐKMN-T&T).
Quá trình làm việc, Dương Đức C, anh Phùng Văn T1 và những người tham gia góp vốn khác để mua Căn hộ liền kề CL 17-36 khai: Những người tham gia góp vốn không biết, không liên quan gì đến việc Dương Đức C lợi dụng việc mua bán C4 bộ liền kề C6 để đưa ra thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Trang N.
Do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với những người trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tiến hành xác minh theo dòng tiền Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại thấy, Dương Đức C đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 1.753.835.000 đồng của các bị hại, trong đó 1.003.835.000 đồng qua tài khoản ngân hàng và 750.000.000 đồng tiền mặt. Quá trình điều tra đến nay xác định: Dương Đức C chỉ sử dụng 01 tài khoản ngân hàng V số [...] để chuyển nhận tiền với các bị hại. Cơ quan điều tra đã tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng V số [...], lấy lời khai những người nhận tiền của Dương Đức C và xác định: Sau khi lừa đảo chiếm đoạt được tiền của các bị hại chuyển đến, Dương Đức C đã chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng của một số người để chuyển rút tiền mặt, trả nợ các khoản vay trước đó và đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết. Những người này đều không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Dương Đức C, đồng thời số tiền những người này nhận của C đều đã sử dụng, chi tiêu cá nhân hết nên không có tiền giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.
Kết quả xác minh tài sản của bị caos: Ngày 29/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V có Văn bản số 314 và 315 gửi Ngân hàng N1 - Chi nhánh tỉnh V và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V đề nghị rà soát, xác minh các tài khoản ngân hàng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đứng tên Dương Đức C. Kết quả: Dương Đức C không đứng tên sở hữu quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nào. Dương Đức C chỉ có mở 01 tài khoản tại Ngân hàng TMCP C5 (V) số [...] và 01 tài
9
khoản ngân hàng TMCP K1 (T6) số 19033220236011. Hiện không có tiền trong các tài khoản ngân hàng này.
Vấn đề bồi thường dân sự: Quá trình điều tra xác định tổng số tiền mà Dương Đức C đã lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại là 1.753.835.000 đồng, trong đó: chiếm đoạt 500.000.000 đồng của anh Trần Minh C2 (đã trả cho anh C2 100.000.000 đồng), chiếm đoạt của anh Lương Việt H2 650.000.000 đồng (đã trả cho anh H2 170.000.000 đồng), chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Trang N 603.835.000 đồng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã thông báo cho Dương Đức C và đại diện gia đình về các yêu cầu trên. Bị can Dương Đức C nhận trách nhiệm bồi thường cho bị hại, tuy nhiên hiện bị can và gia đình đều không có khả năng bồi thường dân sự. Đến nay, Dương Đức C và gia đình chưa bồi thường được thêm gì.
Về vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
- - Ngày 29/6/2023 và ngày 01/7/2023, anh Trần Minh C2 và anh Lương Việt H2 đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố V 02 Giấy nhận tiền, đều đề ngày 15/9/2021, có tên người xác nhận là Dương Đức C, trên Giấy nhận tiền này có dòng chữ viết tay, chữ ký, dấu vân tay đề tên Dương Đức C. Ngày 19/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 618, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh V tiến hành giám định tài liệu, đường vân đối với 01 Giấy nhận tiền do anh Trần Minh C2 giao nộp và 01 Giấy nhận tiền do anh Lương Việt H2 giao nộp. Kết quả: Ngày 11/10/2023, Phòng K2 Công an tỉnh V đã ra bản Kết luận giám định số 2781, kết luận: Chữ ký, chữ viết trên các mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Dương Đức C trên các mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra. Dấu vân tay dưới mục “XÁC NHẬN” trên các mẫu cần giám định so với dấu vân tay dưới mục ghi “Ngón trỏ phải” trên mẫu so sánh là dấu vân tay của cùng một người.
Về nguồn gốc 02 tờ giấy nhận tiền, qua điều tra xác định: Sau khi phát hiện bị Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt tiền, ngày 15/3/2023, anh C2 và anh H2 đã tự soạn thảo sẵn một giấy nhận tiền để trống ngày, nội dung: Dương Đức C đã nhận của anh Lương Việt H2 650.000.000 đồng và nhận của anh Trần Minh C2 850.000.000 đồng, đều với mục đích để mua đất. Sau khi đọc Giấy nhận tiền, Dương Đức C thấy trùng khớp số tiền mà Dương Đức C đã nhận của anh C2 và anh H2 nên C đã tự điền ngày 15/9/2021 vào giấy, viết, ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ xác nhận vào Giấy vay tiền trên. Vật chứng là các giấy tờ viết tay này lưu hồ sơ vụ án.
- - Ngày 11/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 466, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh V tiến hành giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số Imeil: 353923101622468, số imei 2: 353923101603062 do anh Lương Việt H2 giao nộp. Kết quả: Ngày 31/8/2023, Phòng K2 ra bản Kết luận giám định số 2392, kết luận: Chụp được 23 ảnh màn hình hiển thị tin nhắn từ ứng dụng
10
Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập trên máy có tên “Lương Việt H2” với tài khoản tên “Dương Biên”, thời gian từ ngày 17/9/2021 đến 25/9/2021. Toàn bộ ảnh chụp được in vào 01 phụ lục.
Kiểm tra kết quả giám định, xác định có một số tin nhắn có nội dung trao đổi giữa anh H2 và C liên quan đến vụ án. Ngày 30/9/2023 (sau khi có Kết luận giám định), Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 48 bằng hình thức trả lại điện thoại di động nêu trên cho anh Lương Việt H2 là có căn cứ.
- - Ngày 22/02/2024, chị Nguyễn Thị Trang N đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, số sê-ri: FK2XDWZMKPHJ, số Imei: 357275091876067, số Imei 2: 357275091740008. Ngày 23/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 432, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 điện thoại di do chị Nguyễn Thị Trang N giao nộp nêu trên. Kết quả: Ngày 13/5/2024, Phòng K2 Công an tỉnh V ra bản Kết luận giám định số 1298, kết luận: Có 8119 cuộc gọi trong lịch sử cuộc gọi, 2010 tin nhắn SMS, 31.0GB (33,364,117,588 bytes) dữ liệu tin nhắn từ ứng dụng Zalo.
Ngày 18/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 2408, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh V giám định bổ sung Kỹ thuật số và điện tử đối với chiếc điện thoại chị Nguyễn Thị Trang N giao nộp nêu trên. Kết quả: Ngày 11/10/2024, Phòng K2 Công an tỉnh V ra bản Kết luận giám định số 2925, kết luận: Chụp được 192 (một trăm chín mươi hai) ảnh chụp màn hình điện thoại và trích xuất được 01 (một) tệp tin video thể hiện dữ liệu theo yêu cầu giám định.
Kiểm tra kết quả giám định, xác định có một số hình ảnh chụp màn hình hiển thị tin nhắn trong ứng dụng zalo có nội dung trao đổi giữa chị N và C liên quan đến vụ án. Ngày 21/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2704, bằng hình thức trả lại điện thoại di động nêu trên cho chị Nguyễn Thị Trang N là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 130/CT-VKS-P1 ngày 30 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố Dương Đức C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Đức C từ 12 năm 6 tháng đến 13 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
11
Về xử lý vật chứng, đề nghị: Lưu hồ sơ vụ án 02 Giấy nhận tiền đề ngày 15/9/2021 do anh Trần Minh C2 và anh Lương Việt H2 giao nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dương Đức C phải trả cho anh C2 số tiền 400.000.000 đồng, anh H2 480.000.000 đồng và chị N 603.835.000 đồng.
Đối với số tiền 350.000.000 đồng do không đủ căn cứ cơ sở chứng minh Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt của anh C2 số tiền trên nên xác nhận việc C vay 350.000.000₫ của C2 là giao dịch dân sự. Giành quyền khởi kiện cho anh Trần Minh C2 liên quan đến số tiền C đã vay bằng vụ án dân sự khác theo thủ tục Tố tụng dân sự khi có yêu cầu để đảm bảo quyền lợi của anh C2.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
- - Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo, cho rằng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình của Dương Đức C có nhiều người có công với cách mạng (bố đẻ, ông nội, bà nội) được các cấp khen thưởng; hiện bố, mẹ, ông nội của C đã tuổi cao, sức yếu, Cầu là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận. Do được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Các bị hại anh Trần Minh C2, anh Lương Việt H2 và chị Nguyễn Thị Trang N yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt. Trong đó trả cho anh C2 số tiền 400.000.000 đồng, anh H2 480.000.000 đồng và chị N 603.835.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế đã vi phạm pháp luật nên rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và người liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu sài cá nhân và trả nợ nên Dương Đức C đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại thông qua hình thức lừa góp vốn đầu tư kinh doanh bất động sản. Trong thời gian từ khoảng tháng 10/2021, C đã sử dụng thông tin về các thửa đất được người khác giao bán trên mạng Internet hoặc do Cầu tự đưa ra thông tin về các thửa đất không có thực để chiếm đoạt tiền của các cá nhân tham gia góp vốn mua
12
đất, kinh doanh bất động sản gồm: Trần Minh C2 số tiền 500.000.000 đồng; Lương Việt H2 số tiền 650.000.000 đồng và Nguyễn Thị Trang N số tiền 603.835.000 đồng. Tổng số tiền mà Dương Đức C đã lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại là 1.753.835.000 đồng.
-
Đối với số tiền 350.000.000 đồng Trần Minh C2 giao cho Dương Đức C ngày 12/10/2021: Quá trình điều tra, anh C2 khai: Ngày 11/10/2021, C gọi điện thoại cho anh C2 và yêu cầu phải chuyển thêm 350.000.000 đồng tiền đặt cọc cho chủ sở hữu của 02 thửa đất tại TDP M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, ngày 12/10/2021, anh C2 đã đưa số tiền mặt 350.000.000 đồng cho C. Khi gặp C, anh C2 yêu cầu C đưa đến gặp chủ sở hữu của 02 thửa đất, thì C đồng ý đưa anh C2 đi đến gần nhà ở của anh Nguyễn Văn M. Tại đây, C2 thấy C chỉ anh M và nói là chủ đất và anh C2 giao cho C số tiền 350.000.000 đồng tiền mặt, sau đó C cầm tiền đưa cho anh M. Chuyên đứng quan sát mà không nói chuyện gì với M. Do vậy tổng số tiền anh C2 tố giác bị C lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 850.000.000 đồng. Khoảng tháng 3/2022 sau khi biết bị C lừa đảo, C2 đã đến gặp C và yêu cầu C ký viết vào 01 Giấy nhận tiền với nội dung: Ngày 15/9/2021 Dương Đức C nhận của Trần Minh C2 850.000.000đ để hùn vốn mua 03 thửa đất gồm: Thửa đất số 822 tờ bản đồ 20 và thửa đất 665B tờ bản đồ 21 đều có địa chỉ tại TDP M, K, V, Vĩnh P và 01 thửa đất tại TDP Trại Giao, K.
Bị cáo Dương Đức C khai: Ngày 11/10/2021, C gọi điện thoại cho anh C2 để hỏi vay tiền trả nợ cho bạn thì anh C2 đồng ý, nên đến ngày 12/10/2021, anh C2 đã mang tiền đến cho C. Khi gặp nhau, C nhờ anh C2 đưa C đến gần nhà của anh Nguyễn Văn M, sau đó C đã nhận số tiền 350.000.000 đồng từ anh C2 rồi đưa cho anh Nguyễn Văn M. C xác nhận tổng số đã nhận của anh C2 850.000.000₫ nhưng chỉ có 500.000.000 đồng là do C lừa đảo để chiếm đoạt của C2, còn 350.000.000 đồng nêu trên là tiền vay anh C2 và là giao dịch dân sự. Khoảng tháng 3/2023, khi C2 biết sự việc C lừa đảo Chuyên nên đã bảo C phải viết và ký vào tờ Giấy nhận tiền nêu trên đề ngày 15/9/2021 số tiền 850.000.000 đồng và C đã đồng ý viết ký, trong đó ghi thêm là đã trả Chuyên 100.000.000 đồng, còn nợ lại 750.000.000 đồng. Ngày 03/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V tiến hành đối chất giữa anh Trần Minh C2 và Dương Đức C. Kết quả: Cả anh Trần Minh C2 và Dương Đức C đều giữ nguyên lời khai như trên. Do vậy không đủ căn cứ cơ sở chứng minh Dương Đức C lừa đảo chiếm đoạt của anh C2 350.000.000 đồng. Theo đó, việc C vay 350.000.000đ của C2 là giao dịch dân sự.
- Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Dương Đức C đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định quy định tại
13
điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
- Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
-
Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bố đẻ bị cáo là ông Dương Văn C1 được Sư đoàn 314 Quân khu I tặng kỷ niệm chương vì đã có thành tích xây dựng và chiến đấu tại Mặt trận biên giới tỉnh Hà Giang; gia đình bà nội bị cáo là cụ Nguyễn Thị H8 được UBND tỉnh V tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước; ông nội bị cáo là cụ Dương Văn L2 được tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo C 2 lần thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo C trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu cụ thể năm 2011 bị Công an phường Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến nay bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, với số tiền rất lớn nhằm mục đích tiêu sài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, ham muốn kiếm tiền bất chính, gây bất bình trong nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải xử lý thật nghiêm đối với bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại Trại giam, với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C không có tài sản, gia đình có hoàn cảnh khó khăn vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự
- Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 02 Giấy nhận tiền đề ngày 15/9/2021 do anh Trần Minh C2 và anh Lương Việt H2 giao nộp.
-
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Dương Đức C phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho anh C2 400.000.000 đồng, anh H2 480.000.000 đồng và chị N 603.835.000 đồng.
- Đối với anh Nguyễn Văn M quá trình điều tra xác định anh M không biết gì về nguồn gốc số tiền đã nhận từ Cầu và không được tham gia bàn bạc, không giúp sức, không biết về vi phạm pháp luật nêu trên của C. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn M đồng phạm với C trong vụ án là phù hợp.
- Dành quyền khởi kiện cho anh Trần Minh C2 liên quan đến số tiền C đã vay bằng vụ án dân sự khác theo thủ tục Tố tụng dân sự khi có yêu cầu và căn cứ để đảm bảo quyền lợi của anh C2.
- Về án phí: Buộc bị cáo Dương Đức C phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
14
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Dương Đức C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Dương Đức C 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/11/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dương Đức C phải trả cho anh Trần Minh C2 số tiền 400.000.000 đồng; anh Lương Việt H2 số tiền 480.000.000 đồng và chị Nguyễn Thị Trang N số tiền 603.835.000 đồng.
Kể từ ngày anh Trần Minh C2, anh Lương Việt H2, và chị Nguyễn Thị Trang N có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Dương Đức C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Dành quyền khởi kiện cho anh Trần Minh C2 liên quan đến số tiền Dương Đức C đã vay bằng vụ án dân sự khác theo thủ tục Tố tụng dân sự khi có yêu cầu và căn cứ để đảm bảo quyền lợi của mình.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc Dương Đức C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 56.515.050 đồng (làm tròn thành 56.515.000 đồng) (Năm mươi sáu triệu năm trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Bị cáo, bị hại có mặt quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
15
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Mai |
16
Bản án số 14/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Dương Đức C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. 1. Xử phạt bị cáo Dương Đức C 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/11/2023.
