|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 02 - 2025
V/v: “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lan
- Ông Nguyễn Văn Huề
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xét xử Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 269/2024/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXX - ST ngày 06 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST – HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Hồng U, sinh năm 1994; nơi thường trú: tổ B, khu A, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu tái định cư T, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ F, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Hồng U yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung cụ thể sau:
Về quan hệ hôn nhân: chị U và anh Nguyễn Hữu T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 12/7/2023 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng, có thời gian tự do tìm hiểu khoảng 06 tháng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai bên không có tiếng nói chung trong vấn đề kinh tế, chăm sóc con cái dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 9 năm 2024 đến nay, chị U sinh sống tại thành phố M, còn anh T sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại phường C, thành phố H. Đến nay, chị U thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Chị U và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Tú L, sinh ngày 01/11/2023. Từ khi vợ chồng ly thân (tháng 9 năm 2024), anh T đem con chung về thành phố H sinh sống. Tuy nhiên, từ khoảng giữa tháng 12 năm 2024, anh T đã giao con lại cho chị U trực tiếp chăm sóc. Hiện nay, con chung đang sinh sống cùng chị U tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị U đều có quan điểm: cháu L còn quá nhỏ (khoảng 15 tháng tuổi), lại là con gái nên cần sự trực tiếp chăm lo của người mẹ. Bản thân chị U là nhân viên ngân hàng có thu nhập và nơi ở ổn định sẽ đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung được tốt nhất. Vì vậy, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị U trình bày vợ chồng anh, chị không có tài sản chung; không vay nợ chung cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu T: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn anh Nguyễn Hữu T yêu cầu cung cấp lời khai, trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tham gia tố tụng tại Toà án. Tại thời điểm tống đạt các văn bản tố tụng, anh T có mặt nơi cư trú tại phường C, thành phố H và được biết nhưng anh T từ chối nhận các văn bản tố tụng của Toà án và đều vắng mặt không có lý do.
* Tại Biên bản xác minh ngày 17/12/2024, Tòa án đã lấy ý kiến của tổ trưởng tổ F, khu F, phường C, thành phố H là nơi cư trú của anh T và được cung cấp thông tin: chị Lê Hồng U và anh Nguyễn Hữu T là vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp. Anh T, chị U có 01 con chung là cháu Nguyễn Tú L, sinh ngày 01/11/2023. Thời gian gần đây, đại diện tổ dân phố biết anh T đem con về C, thành phố H sinh sống cùng gia đình bố mẹ đẻ, không thấy chung sống cùng chị U. Đại diện tổ dân phố nhiều lần nhận được văn bản tố tụng của Toà án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải để giao tận tay cho anh T nhưng anh T đều từ chối nhận các văn bản trên. Về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị U và anh T, đại diện tổ dân phố không nắm được cụ thể. Đối với việc tranh chấp nuôi con, đại diện tổ dân được biết con chung của chị U và anh T còn rất nhỏ, dưới 36 tháng tuổi. Vì vậy, đại diện tổ dân phố đề nghị Tòa án căn cứ vào nguyện vọng của đương sự và quy định của pháp luật giải quyết.
* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, theo quy định của pháp luật
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến nay, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Hồng U.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Tú L, sinh ngày 01/11/2023 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về thẩm quyền: chị Lê Hồng U khởi kiện “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu T có nơi đăng ký thường trú tại: tổ F, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về sự vắng mặt của các đương sự: tại phiên tòa, chị U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Hữu T mặc dù được Toà án trực tiếp tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà và Giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng đều từ chối nhận các văn bản trên, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Hồng U và anh Nguyễn Hữu T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 12/7/2023. Đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến tháng 9 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong vấn đề kinh tế cũng như chăm sóc nuôi dạy con dẫn đến thường xuyên cãi vã, căng thẳng. Từ tháng 9 năm 2024, anh, chị đã ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Đến nay, chị U xác nhận không còn tình cảm với anh T và cương quyết giữ yêu cầu xin ly hôn, không đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ. Cũng xem xét, việc anh T mặc dù đã được biết các văn bản triệu tập đến Tòa án để trình bày quan điểm về yêu cầu xin ly hôn của chị U nhưng anh T đã không chấp hành cho thấy anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định: mâu thuẫn vợ chồng chị U, anh T đã thực sự trầm trọng, chị U không còn tình cảm với anh T, không còn mong muốn cùng nhau xây dựng, vun đắp gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là bảo đảm quyền ly hôn của đương sự, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình
Về con chung: Chị U và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Tú L, sinh ngày 01/11/2023, hiện do chị U trực tiếp nuôi dưỡng. Xét: chị U có công việc và thu nhập ổn định; tính đến thời điểm xét xử cháu Tú L mới 15 tháng tuổi, là con gái nên cần được sự chăm sóc của người mẹ mới đảm bảo sự phát triển về thể chất và tinh thần cho cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung cho chị U trực tiếp chăm sóc, giáo dục cũng là phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: chị U và anh T không có tài sản chung và không có nợ chung. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
[4] Về án phí: nguyên đơn chị Lê Hồng U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Hồng U.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Hồng U được ly hôn anh Nguyễn Hữu T.
- Về con chung: giao con chung Nguyễn Tú L, sinh ngày 01/11/2023 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Nguyễn Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị Lê Hồng U và anh Nguyễn Hữu T không có tài sản chung, không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị Lê Hồng U phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001385 ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị U đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: chị Lê Hồng U và anh Nguyễn Hữu T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự
6
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - VKSND Tp Hạ Long;
- - THADS Tp Hạ Long;
- - TAND tỉnh Q.N;
- - UBND phường Trần Phú, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (nơi ĐKKH)
- - Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hồ Thị Lan – Nguyễn Văn Huề |
Lê Thị Thu |
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị U ly hôn anh T
