TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 19 - 02 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Thúy
- Ông Trần Trung Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2000 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: K L, tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 04/11/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận T. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Công ty Cổ phần V; Địa chỉ: A P, phường C, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số A T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: K L, tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; (Có mặt)
- Bà Đỗ Thị Thu T1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; (Vắng mặt)
* Người làm chứng: Ông Đinh Phước T2, sinh năm 1994; Nơi cư trú: số D L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 03/11/2024, Nguyễn Văn Đ nảy sinh ý định trộm cắp vàng nên điều khiển xe mô tô hiệu sirius BKS: 43M1-4564 đến Cửa hàng trang sức PNJ thuộc Công ty Cổ phần V tại E Đ, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vào cửa hàng, Đ gặp và yêu cầu chị Đỗ Thị Thu T1 (là nhân viên cửa hàng) tư vấn mua mẫu nhẫn nam. Chị T1 đem 04 nhẫn kim cương ra để trên khay đồng thời tư vấn về giá cả. Đ đeo thử nhẫn kim loại màu trắng, có đính 19 viên đá và nói chị T1 tư vấn nhẫn giá thấp hơn. Lợi dụng lúc chị T1 quay người lại để tìm thêm nhẫn khác thì Đ tháo chiếc nhẫn đang đeo thử, cất giấu vào túi trong bên trái của áo khoác mà Đ đang mặc. Sau đó, Đ tiếp tục xem các trang sức khác một lúc rồi rời cửa hàng. Sau khi chiếm đoạt chiếc nhẫn trên, Đ điều khiển xe đến tiệm C tại A T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, gặp chủ tiệm là anh Trần Văn N cầm chiếc nhẫn trên với giá là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và tiêu xài cá nhân hết.
Thời điểm Đ rời cửa hàng trang sức, bảo vệ cửa hàng là anh Đinh Phước T2 thấy Đ có nhiều biểu hiện nghi vấn nên đã ghi lại biển số xe của Đ và nói chị T1 kiểm tra lại sản phẩm trong cửa hàng thì phát hiện bị mất 01 chiếc nhẫn trên nên chị T1 đã báo quản lý cửa hàng và trình báo sự việc trên cho Công an phường H. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 3073 ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T xác định giá trị của 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, có đính 19 viên đá, trên nhẫn có khắc kí hiệu PNJ 585 nêu trên là 78.817.000 đồng (Bảy mươi tám triệu, tám trăm mười bảy ngàn đồng).
* Vật chứng tạm giữ và xử lý vật chứng:
- 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có đính 19 (mười chín) viên đá, trên nhẫn có khắc ký hiệu PNJ585 do anh Trần Văn N giao nộp và 01 (một) giấy kiểm định GIA số [...], số kiểm định viên kim cương 6495107491 (bản gốc) do chị Mai Thị Thu N1 (nhân viên Công ty Cổ phần V) giao nộp;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS: 43M1-4564, số khung 216412, số máy 216412 do chị Nguyễn Thị T (mẹ ruột của Nguyễn Văn Đ) đứng tên sở hữu.
- 01 (một) Phiếu cầm đồ kiêm hợp đồng số 2390 của dịch vụ cầm đồ Trà My, có chữ ký của Nguyễn Văn Đ và Trần Văn N (bản gốc); 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video: 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 181 MB độ dài 04 phút 07 giây và 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 86,1MB độ dài 01 phút 55 giây do chị Mai Thị Thu N1 giao nộp.
- 01 (một) áo Jean màu trắng xanh; 01 (một) áo thun màu trăng, tay áo có họa tiết màu đen; 01 (một) quần đùi thun có họa tiết màu đen.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đức về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) Phiếu cầm đồ kiêm hợp đồng số 2390 của dịch vụ cầm đồ Trà My, có chữ ký của Nguyễn Văn Đ và Trần Văn N (bản gốc); 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video: 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 181 MB độ dài 04 phút 07 giây và 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 86,1MB độ dài 01 phút 55 giây.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo Jean màu trắng xanh; 01 (một) áo thun màu trắng, tay áo có họa tiết màu đen; 01 (một) quần đùi thun có họa tiết màu đen thu giữ của bị cáo do bị cáo không nhận lại và không có giá trị sử dụng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đ đã thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Đ: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo một hình phạt nhẹ để bị cáo sớm trở về, lao động phụ giúp gia đình, trở thành một công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp, đúng quy định.
[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 03/11/2024, tại Cửa hàng T3 thuộc Công ty Cổ phần V địa chỉ số E Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng, lợi dụng sơ hở của nhân viên cửa hàng, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có đính 19 (mười chín) viên đá, trị giá 78.817.000 đồng (bảy mươi tám triệu tám trăm mười bảy ngàn đồng) sau đó mang đến tiệm cầm đồ để cầm với số tiền 10.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tôi phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Do bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị 78.817.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị lớn, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, đối với bị cáo, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, trả lại cho anh Trần Văn N số tiền 10.000.000 đồng; bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng, qua đó giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi, trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại là Công ty Cổ phần V; bị cáo Nguyễn Văn Đ đã tác động gia đình bồi thường cho chủ tiệm cầm đồ Trà M là ông Trần Văn N số tiền 10.000.000 đồng. Công ty Cổ phần V và ông Trần Văn N không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có đính 19 (mười chín) viên đá, trên nhẫn có khắc ký hiệu PNJ585 và 01 (một) giấy kiểm định GIA số [...], số kiểm định viên kim cương 6495107491 (bản gốc), cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu Công ty Cổ phần V là có cơ sở, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, là tài sản của bà Nguyễn Thị T cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T là có cơ sở, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Đối với 01 (một) Phiếu cầm đồ kiêm hợp đồng số 2390 của dịch vụ cầm đồ Trà My, có chữ ký của Nguyễn Văn Đ và Trần Văn N (bản gốc); 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video: 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 181 MB độ dài 04 phút 07 giây và 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 86,1MB độ dài 01 phút 55 giây do chị Mai Thị Thu N1 giao, là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 (một) áo Jean màu trắng xanh; 01 (một) áo thun màu trắng, tay áo có họa tiết màu đen; 01 (một) quần đùi thun có họa tiết màu đen thu giữ của bị cáo do bị cáo không nhận lại và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
- Đối với bà Nguyễn Thị T là mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Văn Đ, cho bị cáo mượn xe mô tô nhưng không biết bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà T là có cơ sở.
- Đối với ông Trần Văn N là chủ tiệm C, không biết tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn Đ mang đến cầm cố là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông N là có cơ sở.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 04/11/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- - Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) Phiếu cầm đồ kiêm hợp đồng số 2390 của dịch vụ cầm đồ Trà My, có chữ ký của Nguyễn Văn Đ và Trần Văn N (bản gốc); 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video: 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 181 MB độ dài 04 phút 07 giây và 01 đoạn video định dạng MP4 dung lượng 86,1MB độ dài 01 phút 55 giây.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo Jean màu trắng xanh; 01 (một) áo thun màu trắng, tay áo có họa tiết màu đen; 01 (một) quần đùi thun có họa tiết màu đen (Hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2025).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Bình |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
