Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 02 - 2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia

đình – Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.

Các Hội Thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Quốc Thắng
  2. Ông Nguyễn Thanh Chắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia

phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm: 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành H, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ L (gọi tắt là bà L) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Nguyễn Thành H tự nguyện kết hôn với nhau và năm 2003 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau thời gian sống chung với nhau thì vợ chồng ông bà bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, bà L nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thành H.

- Về con chung: Bà L khai vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thành Đ (giới tính: nam), sinh ngày 08/8/2009. Khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn ông Nguyễn Thành H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi lời khai cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông H vắng mặt nhiều lần không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của ông H về yêu cầu khởi kiện của bà L và không thể tiến hành tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn ông Nguyễn Thành H.

Tại phiên tòa, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông H, yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu Đ, bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị các vấn đề sau: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho bà Lê Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Thành H. Giao con chung là Nguyễn Thành Đ cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng, bà L không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông H, không ai được quyền ngăn cản. Tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu nên không xem xét. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu nuôi con chung đối với bị đơn ông Nguyễn Thành H. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn ông Nguyễn Thành H có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Nguyền Thành H1 nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của bị đơn theo quy định.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ L, hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2003 bà L và ông H1 tự nguyện kết hôn và có đăng kết hôn theo quy định nên được xem hôn của ông bà là hợp pháp. Sau thời gian chung sống ông bà đã có con chung với nhau, tuy nhiên cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống. Nay bà L cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông H1. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở xác định quan hệ tình cảm vợ chồng giữa bà L và ông H1 thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, Toà án đã triệu tập ông H1 nhiều lần để tiến hành hoà giải nhưng ông H1 đều vắng mặt không có lý do. Từ đó cho thấy, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L cho bà L và ông H1 được ly hôn.

[2.2]. Về con chung: Cháu Nguyễn Thành Đ (giới tính nam) sinh ngày 08/8/2009, hiện cháu Đ đang sống chung với bà L được bà L chăm sóc tốt và cháu Đ có nguyện vọng sống chung với bà L. Do đó để đảm bảo điều kiện phát triển tốt và đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Đ nên hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Thành Đ cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ông Nguyễn Thành H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông Nguyễn Thành H cấp dưỡng nên không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[2.4]. Từ những nhận định trên xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 233 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Mỹ L đối với ông Nguyễn Thành H. Cho bà Lê Thị Mỹ L và ông Nguyễn Thanh H2 được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thành Đ (giới tính nam), sinh ngày 08/8/2009 cho bà Lê Thị Mỹ L tiếp tục nuôi dưỡng.

    Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Thành H không ai được quyền cản trở.

    Về cấp dưỡng: Bà Lê Thị Mỹ L không yêu cầu nên không xem xét.

  3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Nguyên đơn Lê Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0010313

phiếu lập ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/02/2025). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H. Long Mỹ;
  • - THADS H. Long Mỹ;
  • - UBND xã Thuận Hưng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 14/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị L yêu cầu ly hôn với anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger