|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 18 - 02 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Nguyễn Thành Phước
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Hoàng Quốc V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 02 năm 1997
tại huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề
nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc
tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn V1, sinh năm 1973 và bà
Hoàng Thị K, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03 tháng 8 năm 2024 cho đến nay (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
- Ngô Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 9 năm 1983 tại huyện B, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn A N, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Văn V2, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1992, chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03 tháng 8 năm 2024 cho đến nay (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Trúc L1, sinh năm 1994; cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bà Dư Thị D, sinh năm 1969; cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Trương Nguyễn Hoài Â, sinh năm 1995; cư trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Lê Thị Ngọc O, sinh năm 1974; cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 1974; cư trú: Nhà T, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Lư Thị Ngọc Â1, sinh năm 1979; cư trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1964; cư trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Tạ Thị L2, sinh năm 1986; cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Phạm Thị Bé N, sinh năm 1995; cư trú: ấp M, xã T, huyện P, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị Thúy O1, sinh năm 1974; cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Thang Thị Thúy O2, sinh năm 1983; cư trú: Số I đường V, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Huỳnh Thị Thùy D1, sinh năm 1991; cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ông Nhan Ngọc A, sinh năm 1978; cư trú: khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Huỳnh Lê Yến N1, sinh năm 1995; cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bà Đặng Thị Tuyết C, sinh năm 1982; cư trú: Số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 03 năm 2024 đến tháng 04 năm 2024, Hoàng Quốc V và Ngô Văn T cho 14 người trên địa bàn các huyện T, Chợ M, C và thành phố L, tỉnh An Giang vay tiền với hình thức trả tiền góp ngày. Số tiền cho vay từ 5.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, tổng số tiền đã cho vay là 235.000.000 đồng. Vịnh, T thỏa thuận với người vay trả trong 19 ngày, 22 ngày, 26 ngày và 40 ngày, lãi suất cho vay từ 1,154%/ngày đến 2,373%/ngày (tương đương 421%/năm đến 999%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 từ 21 lần đến 49,95 lần; ngoài ra người vay phải trả phí vay từ 5% đến 10% trên tổng số tiền vay. Để hoạt động cho vay, V và T đã in, phát tờ rơi quảng cáo cho vay tiền tại những nơi công cộng, sử dụng mạng xã hội Facebook để đăng tải thông tin cho vay tiền lên mạng xã hội với nội dung như vay tiền không cần thế chấp tài sản, không cần chứng minh thu nhập, giải ngân nhanh chóng. Khi người có nhu cầu vay tiền thì V, T sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 67B2-737.89 đến nơi ở, nơi làm việc của người vay để thẩm định, thỏa thuận với người vay tiền về hình thức cho vay, số tiền cho vay. Vịnh và T đã thu lợi bất chính số tiền 60.624.744 đồng, gồm: tiền lãi vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) là 38.624.744 đồng, tiền phí cho vay là 22.000.000 đồng. Cụ thể:
- Người vay Nguyễn Thị Trúc L1: Vay 02 lần, tổng số tiền vay là 15.000.000 đồng, mỗi lần vay từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, lãi suất 2,737%/ngày (tương đương 999%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 49,95 lần. V và T thu phí cho vay 1.500.000 đồng, thu lãi 5.063.158 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 101.370 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 4.961.788 đồng.
- Người vay Dư Thị D: Vay 02 lần, tổng số tiền vay là 10.000.000 đồng, mỗi lần vay 5.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.000.000 đồng, thu lãi 1.890.000 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 71.233 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 1.819.676 đồng.
- Người vay Trương Nguyễn Hoài Â: Vay 02 lần, tổng số tiền vay là 30.000.000 đồng, mỗi lần vay từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 3.000.000 đồng, thu lãi 5.236.364 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 197.260 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 5.039.103 đồng.
- Người vay Lê Thị Ngọc O: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 5.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.000.000 đồng, thu lãi 290.909 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 10.959 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 279.950 đồng.
- Người vay Nguyễn Thị Ngọc T2: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 10.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.000.000 đồng, thu lãi 290.909 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 10.959 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 279.950 đồng.
- Người vay Lư Thị Ngọc Â1: Vay 03 lần, tổng số tiền vay là 40.000.000 đồng, mỗi lần vay 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%/năm) 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 4.000.000 đồng, thu lãi 15.441.096 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 43.836 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 15.397.260 đồng.
- Người vay Nguyễn Thị Thu H: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 10.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.000.000 đồng, thu lãi 1.600.000 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 60.274 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 1.539.726 đồng.
- Người vay Tạ Thị L2: Vay 03 lần, tổng số tiền vay là 15.000.000 đồng, mỗi lần vay 5.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.250.000 đồng, thu lãi 3.418.182 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 128.767 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 3.289.415 đồng.
- Người vay Phạm Thị Bé N: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 10.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.000.000 đồng, thu lãi 1.890.909 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 71.233 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 1.819.676 đồng.
- Người vay Nguyễn Thị Thúy O1: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 10.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.000.000 đồng, thu lãi 581.818 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 21.918 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 559.900 đồng.
- Người vay Thang Thị Thúy O2: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 5.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 500.000 đồng, thu lãi 218.182 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 8.219 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 209.963 đồng.
- Người vay Huỳnh Thị Thùy D1: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 10.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 1.000.000 đồng, thu lãi 1.163.636 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 43.836 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 1.119.801 đồng.
- Người vay Nhan Ngọc A: Vay 02 lần, tổng số tiền vay là 10.000.000 đồng, mỗi lần vay 5.000.000 đồng, lãi suất 1,154%/ngày (tương đương 421%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 21 lần. V và T thu phí cho vay 750.000 đồng, thu lãi 1.615.385 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 76.712 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 1.538.672 đồng.
- Người vay Huỳnh Lê Yến N1: Vay 01 lần, tổng số tiền vay là 5.000.000 đồng, lãi suất 1,455%/ngày (tương đương 531%/năm), cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 26,55 lần. V và T thu phí cho vay 500.000 đồng, thu lãi 363.636 đồng gồm: tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 13.699 đồng, tiền lãi vượt mức lãi suất 20%/năm là 349.938 đồng.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T nhận được tố giác của bà Nguyễn Thị Trúc L1 về việc Hoàng Quốc V và Ngô Văn T cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần của bà L1 khi bà không trả nợ đúng hạn. Ngày 03 tháng 8 năm 2024, V và T bị khởi tố, điều tra.
Ngoài ra bà Nguyễn Thị Trúc L1 còn trình bày về việc: Bà L1 vay của Nguyễn Văn T3 số tiền 10.000.000 đồng, với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 26 lần, số tiền T3 thu lợi bất chính là 7.976.768 đồng. Bà L1 vay của Nguyễn Hữu Thông S tiền 10.000.000 đồng, với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 26 lần, số tiền T5 thu lợi bất chính là 1.839.394 đồng. Bà L1 vay của N2 Quang Thuận số tiền 10.000.000 đồng, với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự là 26 lần, số tiền T4 thu lợi bất chính là 6.336.869 đồng.
Vật chứng và tài sản thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 và 01 xe mô tô biển số 67B2-737.89, nhãn hiệu Honda, màu trắng - đen - bạc của bị cáo Hoàng Quốc V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh của bị cáo Ngô Văn T.
Bà Đặng Thị Tuyết C cho biết xe mô tô biển số 67B2-737.89 do bà đứng tên trên Giấy đăng ký xe mô tô. Khoảng tháng 11 năm 2023, bà C đã bán xe cho một người không rõ họ tên, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Bà C không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 112/CT-VKSLX ngày 01 tháng 11 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố Hoàng Quốc V và Ngô Văn T cùng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo Hoàng Quốc V, Ngô Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên. Tại phiên tòa các bị cáo vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra, truy tố đã trình bày ý kiến, lời khai, nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc V từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"; Xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 01 (một) năm đến (02) năm cải tạo không giam giữ về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
- Áp dụng các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Buộc các bị cáo Hoàng Quốc V và Ngô Văn T phải liên đới nộp lại số tiền 121.439.639 đồng là tiền vốn gốc đã thu của người vay tiền và 1.479.452 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự đã thu của người vay tiền; tổng số tiền các bị cáo phải nộp là 122.919.091 để sung công quỹ nhà nước. Buộc các bị cáo liên đới trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) số tiền thu lợi bất chính. Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) phải nộp lại số tiền còn nợ của các bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước.
- Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị: Tịch thu bán phát mãi nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 67B2-737.89; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) sim điện thoại số 0978.978.xxx.
Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Các bị cáo vắng mặt và đều có đơn trình bày ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- - Tại phiên tòa, các bị cáo vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, dù đã được Tòa án tống đạt văn bản triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 290 và Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Hoàng Quốc V, Ngô Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Trong thời gian từ khoảng tháng 3 năm 2024 đến tháng 4 năm 2024, các bị cáo Hoàng Quốc V, Ngô Văn T đã nhiều lần có hành vi cùng nhau cho 14 người khác vay lãi nặng, với mức lãi suất từ 1,154%/ngày đến 2,737%/ngày (tương đương 421%/năm đến 999%/năm) cao hơn mức lãi suất cao nhất được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 từ 21 lần đến 49,95 lần, nhằm thu lợi bất chính tổng số tiền 60.624.744 đồng.
Hành vi của các bị cáo Hoàng Quốc V, Ngô Văn T đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tiền, mang lại nhiều hậu quả cho người đi vay cũng như gia đình họ. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn nhanh chóng có tiền sử dụng mà không phải tốn nhiều công lao động nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi cho vay lãi nặng với mức lãi suất cao gấp nhiều lần quy định của pháp luật. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Vì vậy, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để quảng cáo việc cho vay tiền, chuẩn bị công cụ phương tiện phục vụ việc cho vay, thu tiền vay. Những điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Mặt khác, hiện nay hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đang có xu hướng gia tăng và lan rộng, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Đồng thời khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự còn quy định trong thời gian chấp hành án, người bị kết án bị khấu trừ thu nhập hoặc có thể cho miễn khấu trừ thu nhập. Xét thấy, các bị cáo không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo, đồng thời các bị cáo được miễn việc khấu trừ thu nhập.
[6] Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Khoản tiền các bị cáo dùng để cho vay, khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà các bị cáo đã thu của người vay, khoản tiền phí cho vay phải bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với tiền thu lợi bất chính mà các bị cáo thực tế đã thu được trả lại cho người vay tiền theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[7] Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 67B2-737.89; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia có gắn sim; là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng vào hoạt động cho vay tiền với lãi suất cao, nên cần tịch thu bán phát mãi sung quỹ nhà nước.
[8] Về các vấn đề khác: Ông Nguyễn Văn T3, ông Ngô Quang T4 và ông Nguyễn Hữu T5 có hành vi cho bà Nguyễn Thị Trúc L1 vay lãi nặng, với tổng số tiền vốn 30.000.000 đồng, thu lợi bất chính 16.153.031 đồng, là vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Quốc V, Ngô Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58,
36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Hoàng
Quốc V 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao
dịch dân sự”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã C,
huyện L, tỉnh Hà Nam nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Hoàng Quốc V cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Hoàng Quốc V có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Hoàng Quốc V. Trường hợp bị cáo Hoàng Quốc V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Hoàng Quốc V phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ. Bị cáo Hoàng Quốc V được miễn khấu trừ thu nhập.
Căn cứ khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Ngô Văn T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Ngô Văn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Ngô Văn T. Trường hợp bị cáo Ngô Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Ngô Văn T phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ. Bị cáo Ngô Văn T được miễn khấu trừ thu nhập.
-
Căn cứ các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017):
- Buộc các bị cáo Hoàng Quốc V và Ngô Văn T phải liên đới nộp lại số tiền 121.439.639 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng) là tiền vốn gốc đã thu của người vay tiền và 1.479.452 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng) là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự đã thu của người vay; Tổng số tiền các bị cáo phải nộp lại là 122.919.091 (một trăm hai mươi hai triệu chín trăm mười chín nghìn không trăm chín mươi mốt đồng) để sung công quỹ nhà nước.
-
Buộc các bị cáo Hoàng Quốc V và Ngô Văn T liên đới trả lại cho:
- - Bà Nguyễn Thị Trúc L1 số tiền thu lợi bất chính là: 6.461.788 đồng (sáu triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi tám đồng).
- - Bà Dư Thị D số tiền thu lợi bất chính là 2.819.676 đồng (hai triệu tám trăm mười chín nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng).
- - Bà Trương Nguyễn Hoài  số tiền thu lợi bất chính là 8.039.103 đồng (tám triệu không trăm ba mươi chín nghìn một trăm linh ba đồng).
- - Bà Lê Thị Ngọc O số tiền thu lợi bất chính là 779.950 đồng (bảy trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm năm mươi đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc T2 số tiền thu lợi bất chính là 1.699.875 đồng (một triệu sáu trăm chín mươi chín nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng).
- - Bà Lư Thị Ngọc Â1 số tiền thu lợi bất chính là 23.397.260 đồng (hai mươi ba triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Thu H số tiền thu lợi bất chính là 2.539.726 đồng (hai triệu năm trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu đồng).
- - Bà Tạ Thị L2 số tiền thu lợi bất chính là 4.539.415 đồng (bốn triệu năm trăm ba mươi chín nghìn bốn trăm mười lăm đồng).
- - Bà Phạm Thị Bé N số tiền thu lợi bất chính là 2.819.676 đồng (hai triệu tám trăm mười chín nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Thúy O1 số tiền thu lợi bất chính là 1.559.900 đồng (một triệu năm trăm năm mươi chín nghìn chín trăm đồng).
- - Bà Thang Thị Thúy O2 số tiền thu lợi bất chính là 709.963 đồng (bảy trăm linh chín nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng).
- - Bà Huỳnh Thị Thùy D1 số tiền thu lợi bất chính là 2.119.801 đồng (hai triệu một trăm mười chín nghìn tám trăm linh một đồng).
- - Ông Nhan Ngọc A số tiền thu lợi bất chính là 2.288.672 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi tám nghìn sáu trăm bảy mươi hai đồng).
- - Bà Huỳnh Lê Yến N1 số tiền thu lợi bất chính là 849.938 đồng (tám trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm ba mươi tám đồng).
-
Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) phải
nộp lại số tiền còn nợ của các bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước, cụ thể:
- - Bà Nguyễn Thị Trúc L1 nộp lại số tiền 5.263.158 đồng (năm triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn một trăm năm mươi tám đồng).
- - Bà Dư Thị D nộp lại số tiền 4.090.909 đồng (bốn triệu không trăm chín mươi nghìn chín trăm linh chín đồng).
- - Bà Trương Nguyễn Hoài  nộp lại số tiền 13.636.364 đồng (mười ba triệu sáu trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm sáu mươi bốn đồng).
- - Bà Lê Thị Ngọc O nộp lại số tiền 4.090.909 đồng (bốn triệu không trăm chín mươi nghìn chín trăm linh chín đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc T2 nộp lại số tiền 7.727.273 đồng (bảy triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi ba đồng).
- - Bà Lư Thị Ngọc Â1 nộp lại số tiền 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Thu H nộp lại số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- - Bà Tạ Thị L2 nộp lại số tiền 4.318.182 đồng (bốn triệu ba trăm mười tám nghìn một trăm tám mươi hai đồng).
- - Bà Phạm Thị Bé N nộp lại số tiền 4.090.909 đồng (bốn triệu không trăm chín mươi nghìn chín trăm linh chín đồng).
- - Bà Nguyễn Thị Thúy O1 nộp lại số tiền 8.181.818 đồng (tám triệu một trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm mười tám đồng).
- - Bà Thang Thị Thúy O2 nộp lại số tiền 4.318.182 đồng (bốn triệu ba trăm mười tám nghìn một trăm tám mươi hai đồng).
- - Bà Huỳnh Thị Thùy D1 nộp lại số tiền 6.363.636 đồng (sáu triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi sáu đồng).
- - Ông Nhan Ngọc A nộp lại số tiền 4.615.385 đồng (bốn triệu sáu trăm mười lăm nghìn ba trăm tám mươi lăm đồng).
- - Bà Huỳnh Lê Yến N1 nộp lại số tiền 3.863.636 đồng (ba triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi sáu đồng).
-
Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu bán phát mãi nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 67B2-737.89; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 12; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) sim điện thoại số 0978.978.xxx.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).
-
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Hoàng Quốc V, Ngô Văn T mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Giang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Quốc V - Ngô Quốc T đồng phạm
