|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 18 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Đức Quỳnh.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hoàng Văn Bốn.
- Ông Nguyễn Duy Sự.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa hồ sơ vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2025/HSST-QĐ ngày 24/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRẦN THỊ D (tên gọi khác: Không); giới tính: Nữ; Sinh ngày 23/6/1986 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang;
- Nơi cư trú: Thôn A V, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; H và tên cha: Trần Văn Đ, sinh năm 1957 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nông Thị H1, sinh năm 1962; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; Chồng: Chu Văn T, sinh năm 1979; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2024 đến ngày 23/9/2024, từ ngày 23/9/2024 đến nay bị áp dụng biện pháp ngăn Chấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2024, Trần Thị D sinh năm 1986, trú tại thôn A V, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang thuê nhà số E, tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H của bà Phạm Thị Hồng H2 sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố C, thị trấn T, huyện H để ở. Sau khi thuê nhà, D mua 01 máy tính nhãn hiệu HP, bàn phím, chuột máy tính để truy cập Internet, mạng xã hội. Khoảng tháng 4/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, D biết đến website: Stripchat.com là ứng dụng mạng xã hội cho quay phát trực tiếp thông qua địa chỉ http://mywebcamroom.comhttp://stripchat.com. Khi người xem cảm thấy thích sẽ thưởng, cho tiền (tip) bằng cách gửi tiền T1 (T2 là một loại tiền ảo sử dụng trên trang wed có được bằng cách nạp tiền) giá trị quy đổi 1Tk = 1.000 đồng. D đã tự tìm hiểu cách lập tài khoản trên Stripchat.com để thực hiện quay phát trực tiếp với mong muốn kiếm được tiền từ những người xem. D đăng ký tài khoản có tên hiển thị “A Ma_A_Mai” liên kết với tài khoản ngân hàng số 8103288881986 mang tên mình mở tại Ngân hàng N, chi nhánh huyện H, tỉnh Tuyên Quang và bắt đầu việc quay phát để kiếm tiền. Ngày 30/6/2024, D xem các tài khoản khác (không nhớ tài khoản cụ thể) thấy những người này khi thực hiện việc quay phát trực tiếp đều khỏa thân, không mặc quần áo, không để lộ mặt thực hiện các động tác thủ dâm, kích dục thu hút được nhiều người xem và được tip nhiều Tk. Do muốn kiếm được nhiều tiền nên D đã tự tìm hiểu và đặt mua webcam, trang phục gợi cảm, thiết bị sextoy, gồm: Chày rung, Dương vật giả ... để làm các hành động khiêu dâm, kích dục.
Bằng phương thức thủ đoạn như trên D đã thực hiện hành vi phát trực tiếp khiêu dâm trên trang http://mywebcamroom.com gồm 11 file video và 21 file hình ảnh khoả thân, kích dục trong tài khoản, người nào muốn xem phải trả phí. Ngày 04/7/2024, D sử dụng tài khoản “A Ma_A_Mai” phát trực tiếp từ 17 giờ đến 19 giờ 02 phút các hành động khiêu dâm, kích dục để truyền bá đến 27 tài khoản người xem và nhận được 15 lượt tip từ 15 tài khoản với số tiền 430Tk, cụ thể:
- Tài khoản có tên hiển thị “0969XUAN72845” thực hiện tip 09 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “0989TAM781306” thực hiện tip 10 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “YZECHARIAH” thực hiện tip 14 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “03364HUY57827” thực hiện tip 10 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “034517GIANG4403” thực hiện tip 20 Tk.
- Tài khoản có tên hiển thị “037509TRUNG8349” thực hiện tip 35 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “0559HUY583832” thực hiện tip 07 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “DUC04953” thực hiện tip 95 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “abcusajj” thực hiện tip 167 Tk.
- Tài khoản có tên hiển thị “098596DAT3264” thực hiện tip 14 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “0376HIEU176291” thực hiện tip 29 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “s7131717” thực hiện tip 01 Tk.
- Tài khoản có tên hiển thị “07871NAM94691” thực hiện tip 13 T.
- Tài khoản có tên hiển thị “08338QUE37995” tip 05 TK.
- Tài khoản có tên hiển thị “0336THANH717492" tip 01 TK.
Nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân về hành vi của Trần Thị D. Hồi 19 giờ 02 phút ngày 04/7/2024, tại số nhà E, thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thị D về hành vi Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Tại thời điểm bắt quả tang, Trần Thị D đang phát trực tiếp cho 27 tài khoản người dùng đang xem.
Tại Kết luận giám định của Tổ giám định Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh T ngày 07/7/2024 kết luận (đối với 11 file video ghi lại cảnh quay phát trực tiếp và 21 file hình ảnh được sao lưu từ phần mềm ứng dụng thông qua kiểm tra máy tính của Trần Thị D): 11 video gửi giám định là văn hóa phẩm đồi trụy.
Tại Kết luận giám định số 1066/KL-KTHS ngày 29/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tổng dung lượng của 11 file video và 21 file hình ảnh (thu giữ của Trần Thị D) gửi giám định là 0,687141603 Gigabyte.
Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSHY, ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Trần Thị D về tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”, quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 326 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị D tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Nội dung lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.
Kết thúc phần hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Thị D theo tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị D, phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”. Đề nghị áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị D 3 (ba) năm tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
+ Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 03 Thiết bị sextoy dạng dương vật giả; 03 thiết bị sextoy dạng rung; 01 thiết bị sextoy dạng dương vật giả và rung; 01 quần lót nữ, bằng vải màu đen; 01 áo phông nữ; 01 lọ đựng dung dịch trong suốt, kích thước (18,5 x 6)cm; 02 sạc điện thiết bị sextoy; 02 sạc điện thoại di động; 02 giá kẹp điện thoại di động; 01 thiết bị phát Wifi; 01 bàn phím máy tính không dây màu đen; 01 chuột máy tính không dây; 01 ghế ngồi máy tính; 01 bàn để máy tính.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO lắp 02 thẻ sim; 01 máy tính để bàn, nhãn hiệu HP.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền lợi cho bị cáo trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị D mức án khởi điểm của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương; không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Trần Thị D nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và của Trợ giúp viên pháp lý, không có tranh luận gì. Nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái, hối hận về hành vi của mình hứa sẽ sửa chữa, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Đơn tố giác (nặc danh) của công dân; Các kết luận giám định; Vật chứng thu giữ; Lời khai của người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ đến 19 giờ 02 phút ngày 04/7/2024, tại số nhà E, thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, Trần Thị D, sinh năm 1986, trú tại thôn A V, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi khoả thân quay phát trực tiếp để truyền bá hình ảnh có nội dung khiêu dâm, kích dục thông qua ứng dụng mạng xã hội http://mywebcamroom.com 27 người xem. Tổng dung lượng dữ liệu số hóa là 0,687141603 Gigabyte.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 326 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về hành vi phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm vào thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm suy đồi về mặt đạo đức, ảnh hưởng đến sự lành mạnh của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để giáo dục bị cáo. Tuy nhiên cần xem xét, bị cáo D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cú trú rõ ràng. Vì vậy căn cứ các điều kiện quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022/HĐTP, của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo D mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn có những hạn chế nhất định; Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương; Bị cáo có mẹ đẻ là bà Nông Thị H1 tham gia dân công hoả tuyến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án khởi điểm trong khung đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang và của Trợ giúp viên pháp lý đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ pháp luật.
[3] Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 326 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO lắp 02 thẻ sim; 03 Thiết bị sextoy dạng dương vật giả; 03 thiết bị sextoy dạng rung; 01 thiết bị sextoy dạng dương vật giả và rung; 01 quần lót nữ, bằng vải màu đen; 01 áo phông nữ; 01 lọ đựng dung dịch trong suốt, kích thước (18,5 x 6)cm; 02 sạc điện thiết bị sextoy; 02 sạc điện thoại di động; 02 giá kẹp điện thoại di động; 01 thiết bị phát Wifi; 01 bàn phím máy tính không dây màu đen; 01 chuột máy tính không dây; 01 máy tính để bàn, nhãn hiệu HP; 01 ghế ngồi máy tính; 01 bàn để máy tính.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Tịch thu tiêu hủy: Đối với 03 Thiết bị sextoy dạng dương vật giả; 03 thiết bị sextoy dạng rung; 01 thiết bị sextoy dạng dương vật giả và rung; 01 quần lót nữ, bằng vải màu đen; 01 áo phông nữ; 01 lọ đựng dung dịch trong suốt, kích thước (18,5 x 6)cm; 02 sạc điện thiết bị sextoy; 02 sạc điện thoại di động; 02 giá kẹp điện thoại di động; 01 thiết bị phát Wifi; 01 bàn phím máy tính không dây màu đen; 01 chuột máy tính không dây; 01 ghế ngồi máy tính; 01 bàn để máy tính đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO lắp 02 thẻ sim; 01 máy tính để bàn, nhãn hiệu HP thu giữ của bị cáo Trần Thị D. Đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo D dùng để thực hiện hành vi phạm tội và còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
[6] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- Đối với website http://mywebcamroom.com Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh tại cơ quan quản lý nhà nước để xác định người quản lý nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xem xét trong vụ án.
- Đối với bà Phạm Thị Hồng H2 đã cho bị cáo Trần Thị D thuê nhà. Việc bị cáo D thực hiện hành vi quay phát để truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy bà H2 không biết nên không đề cập xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm đ, g khoản 2 Điều 326 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị D, phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
+ Áp dụng: Điểm đ, g khoản 2 Điều 326; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị D 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 05 (năm) năm, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/02/2025).
Giao bị cáo Trần Thị D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Đối với 03 Thiết bị sextoy dạng dương vật giả; 03 thiết bị sextoy dạng rung; 01 thiết bị sextoy dạng dương vật giả và rung; 01 quần lót nữ, bằng vải màu đen; 01 áo phông nữ; 01 lọ đựng dung dịch trong suốt, kích thước (18,5 x 6)cm; 02 sạc điện thiết bị sextoy; 02 sạc điện thoại di động; 02 giá kẹp điện thoại di động; 01 thiết bị phát Wifi; 01 bàn phím máy tính không dây màu đen; 01 chuột máy tính không dây; 01 ghế ngồi máy tính; 01 bàn để máy tính đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO lắp 02 thẻ sim; 01 máy tính để bàn, nhãn hiệu HP.
(Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 10/02/2025).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Thị D.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lý Đức Quỳnh |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG về truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Dung truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
