Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-PT

Ngày: 17/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang

Ông Bùi Thanh Quốc

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 185/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991 tại Hậu Giang; Nơi cư trú: Số B khu V, phường T, quận C, Thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H; vợ: Bùi Thị T; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N làm công nhân tại Công ty T4 (Địa chỉ: phường P, quận C, thành phố Cần Thơ). Vào khoảng 05 giờ 45 phút, ngày 24 tháng 4 năm 2024 Nghề đến công ty làm việc, khi vào bãi gửi xe thì nhặt được một Thẻ gửi xe của người khác làm rớt. Do không biết của ai nên giữ lại và tiếp tục vào Công ty làm việc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi tan ca ra về thì nảy sinh ý định sử dụng Thẻ xe nhặt được để tìm xe trong nhà xe Công ty lấy trộm. Khi N đi đến khu vực Nhà xe số 3C phát hiện xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển số 95H1 - 162.32 của ông Nguyễn Văn T1 vẫn còn cắm chìa khóa trên xe nên nghĩ đây là xe mà T2 gửi xe Nghề nhặt được rồi lấy trộm, dẫn xe ra nơi kiểm soát vé. Tại đây lợi dụng sự đông đúc của công nhân lúc tan ca lấy xe về và sự sơ hở của nhân viên bảo vệ N đã lén lút đặt thẻ xe nhặt được lên nơi kiểm tra xe ra vào rồi nhanh chóng điều khiển xe đi ra. N điều khiển xe đến quán C tại khu V, phường P, quận C của bà Lê Thị Ngọc T3 để gửi, sau đó quay lại Công ty lấy xe của mình đi về nhà. Qua trích xuất camera tiến hành mời N làm việc thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và tự nguyện chỉ nơi gửi xe, giao nộp xe cùng các tài sản khác cho cơ quan Công an.

Đồ vật, tài liệu đã tạm giữ gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 95H1 - 162.32 (đã qua sử dụng); 01 (một) cái bóp nam (đã qua sử dụng); 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T1; 01 (một) Thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Văn T1.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 42/TCKH-HĐĐG ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, biển số 95H1-162.32 trị giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ đã xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho anh Nguyễn Văn T1.

Bà Lê Ngọc T3 không biết tài sản N đã gửi là do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự, anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại tất cả tài sản và không có yêu cầu bồi thường thêm.

Cáo trạng số 96/CT-VKS-CR ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự số 92/2024/HS – ST ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; các Điều 38, 50, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 11/10/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu: Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đánh giá nhân thân của bị cáo đúng quy định. Mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng là tương xứng đối với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo đủ điều kiện để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 24 tháng 4 năm 2024 bị cáo đến công ty làm việc, khi vào bãi xe bị cáo nhặt được T2 gửi xe của công nhân khác đang làm việc tại Công ty T4 nhưng không gửi trả lại cho Nhân viên bảo vệ nhà xe mà tự ý cất giấu. Đợi đến khi hết ca làm, lợi dụng thời điểm đông công nhân tan ca làm lấy xe ra về, bị cáo lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, Biển số: 95H1 - 162.32 và sử dụng Thẻ gửi xe nhặt được đặt vào máy quẹt thẻ rồi chạy ra khỏi nhà xe của Công ty, bị cáo mang xe đến gửi ở quán C, sau đó quay lại nhà xe của Công ty để lấy xe của bị cáo.

Xe mô tô biển kiểm soát 95H1 - 162.32 là của anh Nguyễn Văn T1, giá trị được xác định qua định giá là 12.000.000 đồng. Với hành vi và giá trị tài sản bị cáo đã lén lút chiếm đoạt Cấp sơ thẩm truy tố xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Sau khi tuyên án sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy,

[3.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong phạm vi Công ty, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân đã cố ý thực hiện nên cần có hình phạt tương xứng, đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo khai, chỉ rõ nơi cất giữ tài sản trộm cắp và đã thu hồi trả lại bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là đầy đủ và có căn cứ. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn để cải tạo, giáo dục là cần thiết.

[3.3] Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2024/HS – ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng Q. Cái Răng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 14/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger