|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 17-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Long Giang;
Ông Nguyễn Văn Độ.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST–HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Y Aly N, sinh năm 1992 tại Đắk Lắk. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Buôn Hô, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Ê Đê; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Y' Yưn Niê và bà H' Ling Niê; tiền án: ngày 15/10/2019, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2019/HS-ST. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đà Nẵng nên ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 219/2019/HS-PT; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2021, Y Aly N lên mạng xã hội Facebook thấy tài khoản F (không nhớ tên tài khoản) đăng tin làm giấy phép lái xe mô tô với giá 1.200.000 đồng không cần đi thi. Sau đó Y Aly N liên hệ với chủ tài khoản Facebook, chủ tài khoản Facebook yêu cầu gửi thông tin, chụp hình ảnh để làm giấy phép lái xe giả, Y Aly N đồng ý làm nên gửi thông tin, hình ảnh của mình cho chủ tài khoản Facebook trên. Đến khoảng tháng 12/2021 thì có nhân viên chuyển phát nhanh gửi giấy phép lái xe mô tô cho Y Aly N. Y Aly N kiểm tra thông tin và trả tiền mặt cho nhân viên giao hàng này.
Vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 13 tháng 05 năm 2023, Tổ tuần tra, kiểm soát đảm báo T-Công an huyện B thực hiện nhiệm vụ tại khu Công Nghiệp B thuộc thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương phát hiện Y Aly N trực tiếp điều hiển xe mô tô biển số 47E1-04810 lưu thông vi phạm lỗi: Điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn, tổ tuần tra yêu cầu Niê xuất trình giấy tờ có liên quan, trong đó có kiểm tra giấy phép lái xe. Qua kiểm tra thì Y Aly N xuất trình giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: [...], tên Y Aly N do Sở GTVT tỉnh Đ cấp ngày 15/11/2021, sau khi kiểm tra nghi vấn là giả, lực lượng tiến hành lập biên bản tạm giữ giấy phép lái xe và chuyển hồ sơ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục xác minh làm rõ.
Kết luận giám định số: 214/KL-KTHS(TL) ngày 19/05/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B như sau: 01 (một) giấy phép lái xe (PET) số: [...], hạng A1 mang tên “Y ALY NIÊ”, sinh ngày 02/01/1992, nơi cư trú: X. E, H. K, T. Đ, đề ngày 15/11/2021 (ký hiệu A) là giả.
Cáo trạng số 128/CT-VKSBB ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Y Aly N về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, các phần khác vẫn giữ nguyên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 219/2019/HS-PT ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng.
- Về biện pháp tư pháp: Không đề nghị xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 13/5/2023, tại KCN B thuộc thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo có hành vi sử dụng 01 giấy phép lái xe giả để xuất trình cho Tổ tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông - Công an huyện B. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Như đã nhận định, hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không làm thay đổi điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Vì vậy căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Bị cáo phạm tội khi đang trong thời gian thử thách án treo theo Bản án hình sự phúc thẩm số 219/2019/HS-PT ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của Bản án hình sự phúc thẩm số 219/2019/HS-PT ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng và tổng hợp hình phạt của Bản án này.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; khoản 5 Điều 65; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 298, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Y Aly N phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Y Aly N 08 (tám) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 219/2019/HS-PT ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Y Aly N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Duy |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
