Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 14/2025/HSST

Ngày 14 - 02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huấn; bà Đỗ Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2024/HSST ngày 16 tháng 12 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08A/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với:

  • + Bị cáo: Nguyễn Chí T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn D, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí N (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; vợ: Hà Thị L; con: Có 01 con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/8/2024 bị Phòng CSGT Công an tỉnh H lập biên bản vi phạm hành chính lỗi dừng xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết, ngày 04/9/2024 Phòng CSGT Công an tỉnh H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T số tiền 350.000đ, ngày 28/10/2024 Phòng CSGT Công an tỉnh H giao quyết định xử phạt cho T; bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024 đến ngày 26/10/2024; hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Bị hại:

  • + Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1959 (đã chết). Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958; anh Phạm Quang H2, sinh năm 1996; cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

* Bị đơn dân sự: Công ty TNHH T2; địa chỉ: Thôn T, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị H3, sinh năm 1980 - Giám

đốc; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • + Chị Hà Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 19/10/2024, Nguyễn Chí T có Giấy phép lái xe hạng C, có thời hạn đến ngày 22/6/2025, điều khiển xe ô tô tải, loại Howo BKS 89H - 023.83 chở đá từ huyện K, tỉnh Hà Nam về tỉnh Hưng Yên. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe ô tô đi đến Km75+700 Quốc lộ C mới trên làn đường xe cơ giới hướng Đ - Hưng Yên thuộc địa phận tổ dân phố V, phường C, thị xã D, Thứ quan sát thấy ngã tư phía trước, ông Phạm Văn H đang điều khiển xe mô tô Dream BKS: 90H1 - 0390 chở bà Vũ Thị H1 (là vợ ông H1) đang đi sang đường, hướng từ Tổ dân phố T sang Tổ dân phố V, phường C, thị xã D (Đi từ bên trái sang bên phải theo chiều đi của Thứ). Khi xe ô tô của Thứ cách xe mô tô của ông H1 khoảng 20m thì T thấy chiếc xe mô tô do ông H1 điều khiển vẫn chưa sang hết đường, đầu xe mô tô của ông H1 đi vào phần đường dành cho xe thô sơ, nhưng đuôi xe thì vẫn ở phần đường dành cho xe cơ giới. Thứ đạp phanh để tránh, nhưng do khoảng cách gần nên phần đầu bên phải xe ô tô va vào cạnh bên phải đuôi xe mô tô, làm ông H1 ngã ra đường, còn bà H1 ngã văng về phía trước cách khoảng 04m. Hậu quả: Bà H1 bị thương nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu. Ông H1 bị thương tích nhẹ không phải đi khám và điều trị tại cơ sở y tế nào.

Kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm ma túy tại thời điểm tham gia giao thông ngày 19/10/2024 kết quả: Nguyễn Chí T và ông Phạm Văn H không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu CNHTC BKS: 89H - 023.83; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020188 do Công an tỉnh H cấp ngày 28/02/2024; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, biển đăng ký 89H-023.83 có hiệu lực đến: 27/2/2026; 01 giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm bắt buộc TNDS có hiệu lực đến ngày 28/2/2025. Tất cả giấy tờ trên đều mang tên công ty TNHH T2; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS: 90H1-0390; 01 giấy đăng ký xe mô tô, BKS: 90H1-0390 mang tên Phạm Văn H; 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Phạm Văn H; 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Chí T.

2

Quá trình điều tra xác định xe ô tô BKS 89H - 023.83 là tài sản hợp pháp của Công ty T2 và xe mô tô BKS 90H1 - 0390 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn H nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô BKS 89H-023.83 kèm theo toàn bộ giấy tờ cho đại diệ của công ty T2 là bà Trần Thị H3 và trả lại xe mô tô BKS 90H1 - 0390 kèm theo giấy tờ xe cho ông Phạm Văn H.

Khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra tai nạn giao thông tại Km75+700 Quốc lộ C mới, khu vực ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ C mới với đường liên xã. Mặt đường Quốc lộ 38 được trải nhựa bằng phẳng, có hai chiều đường, có vạch sơn màu vàng nét đứt rộng 0,15m ở giữa chia thành hai chiều xe chạy. Chiều Đ - Hưng Yên có hai làn đường, làn trong cùng bên phải rộng 2,6m được phân cách làn ngoài bởi vạch sơn màu trắng nét liền rộng 0,2m, làn ngoài rộng 3,3m. Chiều đường ngược lại, làn trong cùng bên phải rộng 2,0m có vạch sơn màu trắng nét liền rộng 0,2m ngăn cách với làn ngoài, làn ngoài rộng 3,3m. Tại khu vực xảy ra tai nạn có biển báo giao thông. Mốc của hiện trường là chân cột Km75+700 QL38 mới, cắm mép đường bên phải hướng Đ - Hưng Yên. Tất cả các số đo đều được đo vuông góc với mép đường bên phải QL38 mới hướng Đ - Hưng Yên và được đánh số thứ tự lần lượt từ (1) đến (5). Cụ thể như sau:

Dấu vết (1) là vết phanh đôi, hướng Đ - Hưng Yên, kích thước (6,6 x 0,45)m, đầu vết cách mép đường chuẩn 2,5 m, điểm cuối cách mép đường chuẩn 2,5 m. Dấu vết (2) là khu vực nhựa vỡ, kích thước (21,7 x 3,5)m, tâm dấu vết (2) cách mép đường chuẩn 1,75 m. Dấu vết (3) là xe mô tô biển kiểm soát 90H1 - 0390 đang dựng đứng bằng chân chống phụ. Đầu xe quay hướng H, đuôi xe quay hướng M, trục trước cách mép đường chuẩn 1,8 m, trục sau cách mép đường chuẩn 0,7 m. Dấu vết (4) là vết máu, kích thước (0,5 x 0,5)m, tâm vết (4) cách mép đường chuẩn 2,45 m. Dấu vết (5) là xe ô tô BKS: 89H-023.83 đang đỗ, đầu xe quay hướng Hưng Yên, đuôi xe quay hướng Đ. Trục trước bên phải cách mép đường chuẩn 0,9 m. Biển báo hiệu giao thông số 208 cách mép đường bên trái Quốc lộ C mới hướng Đ - Hưng Yên 9,2 m. Biển báo hiệu giao thông số 207a cách đầu dấu vết số (1) hướng Đ - Hưng Yên 50,5 m.

Khám nghiệm phương tiện:

  • - Xe ô tô BKS: 89H - 023.83: Ốp nhựa tai xe phía trước bên phải có vết trượt sạch bụi hướng từ trái qua phải, từ trước về sau kích thước (24 x 29)cm, điểm thấp nhất cách đất 103cm. Ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải bị nứt vỡ trên kích thước (36 x 30)cm. Góc bên phải ba đơ sốc phía trước có vết mài sạt kim loại, nhựa bề mặt bám dính chất màu đen nghi sơn hướng từ trái sang phải, từ trước về sau kích thước (72 x 16)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 57cm. Cạnh ngoài cùng bên phải ba đơ sốc này bị gãy, bật bung khỏi chốt hãm, đẩy trái sang phải, trước về sau 19 cm.
  • - Xe mô tô BKS 90H1 - 0390: Gương chiếu hậu bên phải gãy rời khỏi xe, phía sau bên phải yên xe có vết trượt sạt cao su hướng từ trước về sau kích thước (12,5 x 4)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 74 cm. Bên phải tay sách lưng

3

xe bị đẩy cong vênh từ phải sang trái, bề mặt khu vực này mài trượt kim loại bám dính chất màu xanh nghi sơn hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới kích thước (17 x 2)cm, thấp nhất cách mặt đất 68cm. Ốp nhựa xi nhan phía sau bên phải gãy rời khỏi xe. Cạnh bên phải giá kim loại bảo vệ cụm đèn phía sau bị mài sạt, bật tung khỏi các mối hàn, bề mặt bám dính chất màu xanh nghi sơn hướng từ trước về sau, kích thước (7 x 8)cm, điểm cao nhất cách mặt đất 74 cm. Ốp kim loại tay lái bên trái bị bẹp lõm, mài sạt hướng từ dưới lên trên, kích thước (3 x 2)cm. Để chân trước bên trái bị đẩy từ dưới lên trên, từ trái sang phải. Đầu ốp cao su này và lõi kim loại để chân bị mài sạt, rách thủng cao su, kích thước (2 x 2)cm. Đầu để chân sau bên trái bị mài sạt kim loại hướng từ dưới lên trên, kích thước (3 x 2)cm.

Khám nghiệm tử thi: Tại Bản kết luận giám định tử thi số 843/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Vũ Thị H1 là do chấn thương cột sống - tủy cột sống (Trật khớp, phù nề, bầm dập, tụ máu tủy sống đoạn C3-C4).

Đối với thương tích của ông Phạm Văn H: do ông H chỉ bị xây xát nhẹ nên không đề nghì gì về thương tích của mình.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Chí T cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại Vũ Thị H1 số tiền 180.000.000 đồng.

Cáo trạng số 07/CT-VKS – DT ngày 14/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết, trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,

4

HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/10/2024 tại Km75+700 QL38 mới thuộc địa phận TDP V, phường C, thị xã D, Nguyễn Chí T có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô BKS 89H - 023.83 đi theo hướng Đ - Hưng Yên, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ xe, không chấp hành biển cảnh báo nguy hiểm, đã để xe ô tô 89H - 023.83 đâm vào xe mô tô BKS 90H1 - 0390 do ông Phạm Văn H điều khiển chở bà Vũ Thị H1 đang đi sang đường, hậu quả làm bà H1 tử vong.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Chí T gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo điều khiển xe không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, vi phạm Điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết 01 người, đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Ngày 29/8/2024 bị cáo bị lập biên bản vi phạm hành chính tuy nhiên đến ngày 28/10/2024 bị cáo mới nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Phòng CSGT Công an tỉnh H nên xác định bị cáo là người có nhân thân; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường cho người bị hại; được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo là lao động tự do nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về hành vi khác: Trong vụ án này ông Phạm Văn H có lỗi không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên tuy nhiên xe của ông H đã đi gần như sang đường, người bị hại bà Vũ Thị H1 là vợ của ông H1 nên cơ quan điều tra đã không xử lý ông Phạm Văn H là phù hợp.

5

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của bị hại đã nhận tiền bồi thường, nay không có yêu cầu gì; các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Chí T cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, các đương sự thực hiện theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Nguyễn Chí T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/2/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Chí T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Chí T.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Chí T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; đại diện của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

6

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TRẦN NGỌC THUẬN

7

[5] Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: gia đình người bị hại đã nhận tiền bồi thường, nay không có ý kiến gì; các đương sự khác không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng A1, C mang tên Lê Văn H4 cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

11

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn H4 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Lê Văn H4 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/4/2022).

Giao bị cáo Lê Văn H4 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng A1, C mang tên Lê Văn H4 do Sở GTVT tỉnh N cấp.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Lê Văn H4 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, Công ty cổ phần V có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

12

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TRẦN NGỌC THUẬN

13

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: năm 2017 bị cáo có 01 tiền sự nhưng đã được xóa tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại; được người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình được địa phương xác nhận; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là: điều khiển xe mô tô đi không đúng làn đường nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: gia đình người bị hại đã nhận tiền bồi thường. Nay không ai có ý kiến gì; các đương sự không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an thị xã D và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã xử lý nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố bị cáo Đỗ Như Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

* Xử phạt: Đỗ Như Q 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Như Q cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố H, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng

15

án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Đỗ Như Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TRẦN NGỌC THUẬN

16

Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 03/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Tiến H5 từ 24 đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000đ; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe. Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 14/12/2020, tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Lê Tiến H5 có hành vi tàng trữ trái phép 09 gói ma túy là Heroine, có tổng khối lượng 0,751 gam, để sử dụng thì bị Công an phường Đ bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

22

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy vì vậy cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về nguồn gốc ma túy: Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo do không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.

[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 di động V1; 260.000đ không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo. Đối với xe mô tô 53V4-8291 và đăng ký của xe là tài sản riêng của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Tiến H5 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Tiến H5 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo: 01 di động viettel; 260.000₫ (Hai trăm sáu mươi ngàn đồng).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 53V4-8291 và đăng ký của xe.

Tịch thu tiêu hủy: 01 xi lanh, 01 ống nước cất Novocain; 03 phong bì chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.

23

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên. Riêng số tiền được chuyển qua tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1. Buộc bị cáo Lê Tiến H5 phải nộp: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Công an thị xã D;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã D;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc T1

24

Từ nhận định trên, HĐXX nhận thấy bị cáo là một người nghiện ma túy nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi xã hội đủ để bị cáo có thời gian cai nghiện, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

26

[4]Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5]Về nguồn gốc ma túy: Do không xác định được là của ai, ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT có dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H, xác định đây là vật chứng cấm lưu hành liên quan đến vụ án nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Đ; số tiền 77.000 đồng. Qua đấu tranh xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trương Văn Đ 24( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2020.

2. Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong số 162/PC09-MT và dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh H.

Trả lại cho bị cáo Trương Văn Đ: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphon đã cũ màu trắng bạc, bên trong có một sim điện thoại; 01 ví giả da màu nâu đã cũ rách, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Trương Văn Đ và số tiền 77.000₫ (Bẩy mươi bẩy nghìn) đồng.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 01/12/2020).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trương Văn Đ phải nộp: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

27

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tiến Đông

28

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/HSST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 14/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí Th phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger