TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HSST Ngày: 14/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đô;
- Bà Trần Thị Chín.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng .
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/ QĐXXST – HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Bùi Công K (Tên gọi khác: Kiên Đ), sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Phước. Căn cước công dân số: 070092004027, cấp ngày 05/3/2023
Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước
Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K1 và bà Phan Thị L; tiền sự: Không.
Tiền án:
- + Ngày 22 tháng 7 năm 2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 03 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 80/2015/HSST.
- + Ngày 16 tháng 12 năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 124/2016/HSST.
Tổng hợp hình phạt 02 Bản án là 03 năm 03 tháng tù. Đến tháng 09 năm 2018, K chấp hành xong bản án.
- + Ngày 31 tháng 8 năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 03 tháng 12 ngày tù về Tội trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 65/2022/HSST. Đã chấp hành xong bản án.
- + Ngày 14 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 09 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 51/2024/HSST. Đến ngày 20 tháng 9 năm 2024, đã chấp hành xong hình phạt và án phí, chưa được xoá án tích.
Bị cáo bị giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2024 cho đến nay, (có mặt).
- - Bị hại: Lại Văn H, sinh năm 1986, (vắng mặt).
- Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện P, tỉnh Bình Phước.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Anh Trần Thành M, sinh năm 1981, (vắng mặt).
- Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
- 2. Anh Bùi Xuân C, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiền tiêu xài nên D (không rõ nhân thân, lý lịch) rủ Bùi Công K và Trần Thành M đến khu vực huyện B, tỉnh Bình Phước trộm chó. Sau đó, M thuê 01 xe ô tô biển số: 51G-590.23 của anh Bùi Xuân C còn D chuẩn bị 01 súng điện tự chế, 01 tấm bạt lót sàn xe và 01 biển số: 51G-164.52. Đến khoảng 00 giờ ngày 05 tháng 10 năm 2024, M điều khiển xe ô tô biển số: 51G-590.23 chở D đi đến khu vực thôn C, xã M, huyện B đón K. Tại đây, K lấy biển số: 51G-164.52 thay thế biển số: 51G-590.23 gắn vào xe ô tô rồi cùng D, M đi đến khu vực thôn D, xã Đ, huyện B thì thấy 01 con chó màu đen, sọc vàng của anh H đang nằm trong sân nhà của anh Lại Văn H nên M dừng xe, để K xuống mở chốt khóa cổng, còn D đi vào bên trong dùng súng điện bắn 01 cái thì mũi tên bay sượt qua đầu làm con chó hoảng sợ chui qua hàng rào B40 chạy thoát. Lúc này, nghe tiếng chó sủa, anh H tỉnh dậy bật đèn mở cửa đi ra ngoài nhìn thấy D, K nên hô hoán thì D, K leo lên xe ô tô rồi cùng M chạy thoát. Đến ngày 09 tháng 10 năm 2024, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không thể trốn tránh nên K đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 53/KL-HĐĐGTS ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện B, kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm: 01 con chó giống đực, màu lông đen sọc vàng, 02 năm tuổi, trọng lượng 16 kg, có giá tại thời điểm xảy ra tội phạm là 800.000 đồng.
Tại Bản án số 51/2024/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2024, bị cáo Bùi Công K bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 09 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Đến ngày 20/9/2024 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xoá án tích.
Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã xử lý:
- + Trả 01 xe ô tô biển kiểm soát 51G-590.23 cho anh Bùi Xuân C.
- + 01 con chó đã trả lại cho anh Lại Văn H.
- + 01 súng điện tự chế, mũi tên, 01 tấm bạt, 01 biển số: 51G-164.52 không thu hồi được.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lại Văn H đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS.BĐ ngày 20/01/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Bùi Công K về Tội trộm cắp tài sản, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Công K phạm Tội trộm cắp tài sản.
Về hình phạt, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Công K từ 06 đến 09 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập nên không đề nghị áp dụng.
Bị cáo Bùi Công K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 05 tháng 10 năm 2024, Bùi Công K cùng Trần Thành M và người tên D (không rõ nhân thân, lý lịch) lén lút trộm cắp 01 con chó có giá trị 800.000 đồng của anh Lại Văn H thuộc khu vực thôn D, xã Đ, huyện B
Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt chưa đủ định lượng để khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, ngày 14/6/2024, bị cáo Bùi Công K bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 09 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo Bùi Công K phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội trộm cắp tài sản.
Đối với việc bị cáo chưa dịch chuyển được tài sản là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do đó, bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Bùi Công K đã phạm vào Tội trộm cắp tài sản. Quy định tại điểm b khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài. Bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng có 04 tiền án về Tội trộm cắp tài sản. Tại lần phạm tội này bị cáo không bị áp dụng là tái phạm nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phạm tôi nhưng chưa gây thiệt hại, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo chưa lấy được tài sản, phạm tội chưa đạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả 01 xe ô tô biển kiểm soát 51G-590.23 cho anh Bùi Xuân C.
Trả lại cho anh Lại Văn H 01 con chó
Các phương tiện và tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 súng điện tự chế, mũi tên, 01 tấm bạt, 01 biển số: 51G-164.52 không thu hồi được. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bị cáo là người không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Đối tượng tên D không rõ nhân thân, lý lịch, không làm việc được nên không có căn cứ xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Trần Thành M chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản và chưa bị kết án về Tội trộm cắp tài sản hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 Bộ luật Hình sự nên không xử lý về mặt hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý hành chính.
- - Ông Bùi Xuân C không biết việc M thuê xe ô tô để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Bùi Công K phạm Tội trộm cắp tài sản
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Bùi Công K 07 tháng tù (bảy tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2024.
[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Công K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 14/2025/HSST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 14/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Công K, sinh ngày: Nơi cư trú: huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố về Tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
