TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 11 - 02 - 2025 | - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Trị và ông Nguyễn Hữu Sang.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Cà Văn V, sinh năm 2000 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn P, sinh năm 1960 và bà Cà Thị C, sinh năm 1965; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn V: Bà Nguyễn Thị Hồng T – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
- Người bị hại: Nguyễn Văn L, sinh năm 1964 (Đã chết).
Người đại diện hợp pháp cho ông Nguyễn Văn L: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1967. (có mặt)
Trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1983 – Luật sư, Chi nhánh B – Công ty L4. (có mặt)
Địa chỉ: A T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn dân sự:
Công ty TNHH S.
Đại diện theo pháp luật: Ông Giang Triều V1 – Chức vụ: Giám đốc. (có mặt)
Địa chỉ: Cụm C, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chi nhánh Công ty Cổ phần D tại Q.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình L1 – Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: A T, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Hoàng H2 – Chức vụ: Phó Giám đốc (vắng mặt).
Địa chỉ: F V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
- + Nguyễn Thị L2, sinh năm 1990 (vắng mặt);
- + Trương Thị Bích L3, sinh năm 1990 (vắng mặt);
- + Trần Minh V2, sinh năm 1993 (vắng mặt);
- Đồng trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
- + Lê Ngọc T1, sinh năm 1969 (vắng mặt);
- Trú tại: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
- + Lê Quốc T2, sinh năm 1992 (vắng mặt);
- Trú tại: D N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cà Văn V (SN: 2000) có HKTT tại bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La là công nhân Công ty TNHH S (gọi tắt là Công ty S), địa chỉ tại cụm C thuộc thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định do ông Giang Triều V1 (SN: 1990) ở A P, T, T, thành phố Hồ Chí Minh làm giám đốc. V là công nhân sản xuất nhựa, nhiệm vụ là vận hành máy trong dây chuyền sản xuất, vận chuyển hàng hóa trong khuôn viên công ty và các nhiệm vụ khác theo phân công của giám đốc công ty. Ông Nguyễn Văn L (SN:1964), ở thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định, là nhân viên bảo vệ của Chi nhánh Công ty cổ phần D tại Q (gọi tắt là Công ty D). Ông L được Công ty D điều động đến bảo vệ tại Công ty S theo hợp đồng cung ứng nhân viên bảo vệ, nhiệm vụ của ông L là bảo vệ, giám sát không cho kẻ gian đột nhập vào khuôn viên công ty và bảo vệ an ninh trật tự, an toàn tài sản của công ty.
Vào sáng ngày 02/08/2023, theo sự phân công của ông Giang Đạt T3, V điều khiển xe nâng nhãn hiệu Heli CPCD 30 –Q9K, tải trọng 3 tấn của công ty để thực hiện nhiệm vụ bốc dỡ các kiện hàng rác thải nhựa từ các xe container chở đến nhập và đưa vào bãi chứa của công ty (các kiện hàng gồm các loại rác thải nhựa như bao bì, chai lọ,... được nén chặt thành hình khối hộp, có khối lượng khoảng 500kg). Theo kinh nghiệm làm việc, anh V sẽ lái xe nâng di chuyển trên mặt đất đến đuôi thùng xe container đậu ở sân công ty lấy các kiện hàng xếp ở hàng ngoài cùng xuống. Sau khi lấy hết các kiện hàng ở ngoài cùng thì tài xế xe container mới di chuyển đưa thùng xe vào một cầu tải đặt cố định trên sân công ty. V tiếp tục lái xe nâng đi lên cầu tải vào bên trong thùng xe và đưa các kiện hàng còn lại xuống. Toàn bộ các kiện hàng khi đưa xuống đều được đưa qua bãi chứa trong sân công ty.
Khoảng 07 giờ cùng ngày, V điều khiển xe nâng bắt đầu bốc dỡ các kiện hàng từ 02 xe container đã đậu sẵn ở sân công ty, đến khoảng 08 giờ thì có thêm xe ô tô đầu kéo biển số 43C – 101.95 kéo sơmi rơmooc biển số 43R – 015.63 do tài xế Lê Quốc T2 (SN:1992), ở phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng điều khiển đến đậu bên cạnh 02 xe trên. V lấy hết các kiện hàng của xe đầu tiên thì xe này di chuyển ra khỏi công ty, sau đó V tiếp tục lấy các kiện hàng của xe thứ hai. Đến khoảng 10 giờ 45 cùng ngày, V lấy xong hàng trên xe thứ hai, lúc này xe vẫn đậu ở cầu tải, chưa di chuyển.
Anh V lái xe nâng di chuyển trên mặt đất đến đuôi sơmi rơmooc biển số 43R – 015.63 để lấy các kiện hàng xếp ở hàng ngoài cùng xuống trước (hàng này gồm 2 chồng, mỗi chồng xếp 2 kiện hàng). Anh V điều khiển thanh nâng đút vào mặt dưới của chồng kiện hàng phía bên phải rồi rút 2 kiện hàng của chồng này ra cùng một lúc. Trong lúc V đang rút các kiện hàng trên thì ông L đi bộ đến vị trí phía sau đuôi xe nâng. Khi V vừa rút 2 kiện hàng ra khỏi thùng xe container thì kiện hàng phía trên bị rơi và lăn qua đầu xe nâng ra phía sau (do đầu xe nâng có khung bảo vệ nên anh V không bị ảnh hưởng gì) và tiếp tục rơi xuống đất và lăn đè vào người ông L ngã đập vào cầu tải. Lúc này, chị Nguyễn Thị L2 (SN: 1990) ở T, T, T, Bình Định là kế toán Công ty S, đang đứng trên cầu tải để chụp ảnh thì phát hiện, hô hoán. Ông L được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T nhưng đã chết trên đường đi. V vẫn tiếp tục lái xe nâng đưa các kiện hàng vào bãi chứa, sau đó thì Công an xã T đến yêu cầu dừng công việc để phối hợp xác minh.
Theo kết luận giám định của phòng K công an tỉnh B số 353/KLGĐTT- KTHS, ngày 22/08/2023, ông Nguyễn Văn L chết: Suy tuần hoàn do chảy máu ổ bụng, sốc tủy/ chấn thương.
Về phần dân sự: Bị hại yêu cầu công ty S T3 bồi thường số tiền 213.000.000 đồng và cấp dưỡng 4.000.000 đồng/ tháng từ 02/08/2023 đến chết; Công ty S đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo Cà Văn V đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân.
Đối với kiện hàng lăn đè trúng ông L, do sau khi xảy ra sự việc V đã đưa kiện hàng này vào bãi chứa cùng với các kiện hàng khác có đặc điểm tương tự nhau nên không thể xác định được kiện hàng nào là kiện hàng đè trúng ông L nên không thu giữ được.
Tại Bản cáo trạng số 42/CT – VKSTS ngày 05/08/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Cà Văn V về tội “Vô ý làm chết người” theo Khoản 1 Điều 128 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cà Văn V phạm tội “Vô ý làm chết người”.
* Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Cà Văn V mức án từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
* Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và 591 của Bộ luật dân sự.
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận: Giữa bị cáo Cà Văn V, Bị đơn dân sự Công ty TNHH S (Đại diện theo pháp luật: ông Giang Triều V1) cùng với đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Văn L là bà Đỗ Thị H (vợ ông L) phải tiếp tục bồi thường về thiệt hại tính mạng bị xâm phạm cho ông Nguyễn Văn L số tiền là 237.000.000₫ (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng), ngoài số tiền đã bồi thường trước 30.000.000 đồng (Trong đó: Bị cáo V: 10.00.000đ; Công ty TNHH S: 20.000.000₫) là xong. Buộc Công ty TNHH S có nghĩa vụ bồi thường số tiền là 237.000.000đ (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng) - (Đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Văn L là bà Đỗ Thị H – vợ của ông Nguyễn Văn L nhận số tiền này).
Bà Đỗ Thị H đã nộp đơn khởi kiện Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động đối với Công ty Cổ phần D và Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã tiến hành thụ lý vụ án vào ngày 14/11/2024. Đây là vụ án tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn nên không xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn V3 là bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo Cà Văn V phạm tội “Vô ý làm chết người” như bản cáo trạng cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo V, xử phạt 12 tháng cải tạo không giữ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là bà Hồ Thị H1 trình bày:
Thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo V đã phạm vào tội “Vô ý làm chết người” như bản cáo trạng cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Về bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của bị cáo V, Công ty TNHH S và bà Đỗ Thị H tại phiên tòa. Buộc Công ty TNHH S bồi thường tiếp số tiền là 237.000.000đ (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng), ngoài số tiền đã bồi thường trước 30.000.000 đồng là xong.
Bà Đỗ Thị H đã nộp đơn khởi kiện Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động đối với Công ty Cổ phần D và Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã tiến hành thụ lý vụ án vào ngày 14/11/2024. Đây là vụ án tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn nên đề nghị không xem xét trong vụ án này.
Tại phiên tòa, bà Đỗ Thị H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Cà Văn V được hưởng án treo, để bị cáo tiếp tục đi làm nuôi cha mẹ già, có tiền bồi hoàn lại cho công ty.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:
Cà Văn V là công nhân Công ty TNHH S, địa chỉ: cụm C thuộc thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định do ông Giang Triều V1 là Giám đốc. V được giao nhiệm vụ lái xe nâng để nâng đỡ hàng nhưng chưa được đào tạo, huấn luyện và cấp chứng chỉ vận hành lái xe nâng theo quy định. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 02/08/2023, V điều khiển xe nâng hiệu Heli, trọng tải 3 tấn bốc dỡ hàng từ xe ô tô đầu kéo 43C - 10195 kéo sơmirơmoc 43R -01563 do anh Lê Quốc T2 ở phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng điều khiển đến nhưng không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn như: rào chắn, biển cảnh báo, bố trí người canh gác cho người khác biết, không chú ý quan sát xung quanh, cho xe nâng rút kiện hàng cùng một lúc hai kiện hàng nên kiện hàng trên cùng đã lăn rơi trúng người của ông Nguyễn Văn L là nhân viên bảo vệ của công ty gây hậu quả nghiêm trọng làm ông L chết (suy tuần hoàn do chảy máu ổ bụng, sốc tủy/ chấn thương cột sống) là lỗi vô ý do cẩu thả. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn V phạm tội “Vô ý làm chết người” được quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ.
[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo Cà Văn V là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[4.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đã khắc phục một phần hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 10.000.000đ; tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo phạm tội lần đầu, phía bị hại cũng có một phần lỗi tự ý vào khu vực nguy hiểm; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về phần trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:
Tại phiên tòa, Đại diện hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn L là bà Đỗ Thị H (vợ của ông L) yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản sau: Chi phí mai táng: 33.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần: 234.000.000đ. Tổng cộng: 267.000.000đ (hai trăm sáu mươi bảy triệu đồng), trừ đi số tiền bồi thường trước của bị cáo Cà Văn V là 10.000.000đ và Công ty TNHH S là 20.000.000đ. Đối với tiền cấp dưỡng cho con Nguyễn Thị Mỹ T4 bị khuyết tật thì bà Đỗ Thị H xin rút yêu cầu, không yêu cầu bị cáo V và Công ty TNHH S phải cấp dưỡng.
Bị cáo Cà Văn V và Công ty TNHH S thỏa thuận, thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bà Đỗ Thị H, cụ thể: Công ty TNHH S (Đại diện theo pháp luật: ông Giang Triều V1) đồng ý bồi thường tiếp về thiệt hại tính mạng bị xâm phạm cho ông Nguyễn Văn L với số tiền là 237.000.000đ (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng).
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Cà Văn V, Bị đơn dân sự Công ty TNHH S (Đại diện theo pháp luật: ông Giang Triều V1) cùng với đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Văn L là bà Đỗ Thị H (vợ ông L) phải tiếp tục bồi thường về thiệt hại tính mạng bị xâm phạm cho ông Nguyễn Văn L số tiền là 237.000.000đ (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng), ngoài số tiền đã bồi thường trước 30.000.000 đồng (Trong đó: Bị cáo V: 10.00.000đ; Công ty TNHH S: 20.000.000₫) là xong. Buộc Công ty TNHH S có nghĩa vụ bồi thường số tiền là 237.000.000đ (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng) - (Đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Văn L là bà Đỗ Thị H – vợ của ông Nguyễn Văn L nhận số tiền này).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Cà Văn V phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH S phải nộp: 237.000.000₫ x 5% = 11.850.000đ (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
[7] Đối với anh Giang Triều V1, là Giám đốc Công ty S, có hành vi phân công anh Cà Văn V vận hành xe nâng trong khi anh V chưa được huấn luyện, cấp chứng chỉ về an toàn lao động, vệ sinh lao động và cấp chứng chỉ vận hành xe nâng theo quy định là vi phạm hành chính nên ngày 14/11/2023, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh B đã xử phạt hành chính số tiền 15.000.000đồng.
[8] Bà Đỗ Thị H đã nộp đơn khởi kiện Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động đối với Công ty Cổ phần D và Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã tiến hành thụ lý vụ án vào ngày 14/11/2024. Đây là vụ án tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn nên không xem xét trong vụ án này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cà Văn V phạm tội “Vô ý làm chết người”.
- Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Cà Văn V 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/02/2025).
Giao bị cáo Cà Văn V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bình Định quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Cà Văn V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về phần trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585 và 591 của Bộ luật dân sự.
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận: Buộc Công ty TNHH S (Đại diện theo pháp luật: ông Giang Triều V1) có nghĩa vụ bồi thường tiếp số tiền là 237.000.000₫ (hai trăm ba mươi bảy triệu đồng) cho bị hại ông Nguyễn Văn L, ngoài số tiền đã bồi thường trước 30.000.000 đồng là xong.
Đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Văn L là bà Đỗ Thị H – vợ của ông Nguyễn Văn L nhận số tiền này.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí
Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Cà Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH S phải nộp: 11.850.000đ (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo và đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
6.2. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Trọng |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về vô ý làm chết người
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cà Văn V phạm tội vô ý làm chết người
