TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/DS-ST Ngày 06-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Lực;
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 800/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 509/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Địa chỉ: số B, đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị Ngọc D1, sinh năm 1990 (Văn bản ủy quyền ngày 03/01/2025), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1983. Thường trú: số B, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ liên hệ: số A, xóm N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 9 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày.
Vào ngày 18/10/2023, bà Nguyễn Thị Hồng L đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề nghị Ngân hàng TMCP S (viết tắt là Ngân hàng S) cấp 01 thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng. Căn cứ vào thu nhập và các giấy tờ khác liên quan của bà L, ngày 24/10/2023, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng cho bà L, mục đích tiêu dùng, lãi suất: 29,8%/năm. Trong quá trình sử dụng thẻ (từ ngày kích hoạt thẻ cho đến ngày nộp hồ sơ khởi kiện), bà L còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 06/02/2025 là 60.009.732 đồng, trong đó: nợ gốc là 55.274.195 đồng, lãi quá hạn: 4.735.537 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Đến ngày 25/7/2024, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 22/10/2022 nên toàn bộ dư nợ của bà L đều đã chuyển nợ quá hạn. Tạm tính đến thời điểm ngày 06/02/2025 bà L còn nợ Ngân hàng TMCP S Chi nhánh B – Phòng giao dịch Quốc lộ A số vốn gốc, lãi quá hạn cụ thể như sau:
- Theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 18/10/2023 số tiền 952.338 đồng, trong: nợ gốc: 889.107 đồng, lãi: 63.231 đồng.
- Khoản vay S1 9 triệu đồng, trả góp 9 tháng số tiền 5.267.694 đồng, trong đó: nợ gốc: 4.824.000 đồng, lãi: 443.694 đồng.
- Khoản vay S1 Pay 7 triệu đồng, trả góp 4 tháng số tiền 2.365.530 đồng, trong đó: nợ gốc: 2.175.000 đồng, lãi: 190.530 đồng.
- Khoản vay S1 12 triệu đồng, trả góp 12 tháng số tiền 13.840.455 đồng, trong đó: nợ gốc: 13.080.000 đồng, lãi: 760.455 đồng.
- Khoản vay S1 9 triệu đồng, trả góp 9 tháng số tiền: 9.773.221 đồng, trong đó: nợ gốc: 8.950.000 đồng, lãi: 823.221 đồng.
- Khoản vay S1 Pay 40 triệu đồng, trả góp 18 tháng số tiền 27.810.494 đồng, trong đó: nợ gốc: 25.356.088 đồng, lãi: 2.454.406 đồng.
Mặc dù Ngân hàng S đã nhiều lần trao đổi, làm việc và tạo mọi điều kiện để bà L tìm nguồn tiền thanh toán vốn vay, các khoản lãi phát sinh nhưng đến thời điểm hiện nay, bà L vẫn không thực hiện thanh toán theo đúng các cam kết với Ngân hàng.
Việc cố tình dây dưa, không thực hiện đúng như cam kết của bà L đã làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quyền lợi chính đáng và hợp pháp của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Nguyễn Thị Hồng L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 06/02/2025 là 60.009.732 đồng, trong đó: nợ gốc là 55.274.195 đồng, lãi quá hạn: 4.735.537 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 18/10/2023 giữa bà Nguyễn Thị Hồng L và Ngân hàng TMCP S.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Hồng L còn phải thanh toán cho ngân hàng tiền lãi quá hạn, lãi phạt được tính theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (đã nêu) từ ngày 24/10/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L nhưng bà L vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là bà Hoàng Thị Ngọc D1 vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn bà Hoàng Thị Ngọc D1 vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, xét thấy: Ngày 18/10/2023, Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Hồng L ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân với các điều khoản như sau: Ngân hàng S cấp 01 thẻ tín dụng cho bà L với hạn mức 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, lãi suất: 29,8%/năm. Xét thấy, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 18/10/2023 được ký kết giữa Ngân hàng S và bà L thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, thỏa thuận của các bên về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích, lãi suất vay, phương thức trả nợ...phù hợp với quy định của pháp luật. Thực hiện hợp đồng ngày 24/10/2023, Ngân hàng S đã cấp cho bà L 01 thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng. Theo lời khai của đại diện Ngân hàng S đến ngày 25/7/2024, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy
định tại Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 22/10/2022 nên toàn bộ dư nợ của bà L đều đã chuyển nợ quá hạn. Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 18/10/2023 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 22/10/2022. Vì vậy, nguyên đơn Ngân hàng S khởi kiện bị đơn bà L phải thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 06/02/2025 là 60.009.732 đồng, trong đó: nợ gốc là 55.274.195 đồng, lãi quá hạn: 4.735.537 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 18/10/2023 và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 07/02/2025 cho đến khi thanh toán hết số nợ là có căn cứ chấp nhận.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng L phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc bà Nguyễn Thị Hồng L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 06/02/2025 là 60.009.732 đồng, trong đó: nợ gốc là 55.274.195 đồng, lãi quá hạn: 4.735.537 đồng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 18/10/2023 giữa bà Nguyễn Thị Hồng L và Ngân hàng TMCP S.
2. Kể từ ngày 07/02/2025, bà Nguyễn Thị Hồng L tiếp tục phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 18/10/2023 giữa bà Nguyễn Thị Hồng L và Ngân hàng TMCP S.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Hồng L phải chịu 3.000.000 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 1.286.093 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001876 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
Bản án số 14/2025/DS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP S với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L
