|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 24 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, ông Nguyễn Văn Được.
-Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Chẩu Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, đối với bị cáo:
Trần Văn Q; tên gọi khác: không; sinh năm: 1998; tại: Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm N, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1976; Bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Á (đã ly hôn) và một người con sinh năm 2021.
Tiền án: 01. Ngày 27/7/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 84/2023/HSST. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 26/6/2024.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1983; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1969; Địa chỉ nơi cư trú: 1 Đ, Khu phố A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Bà Phạm Thị Hồng P, sinh năm 1976; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 11/09/2024, Trần Văn Q một mình đi bộ từ công viên trung tâm thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đến khu nhà ở xã hội thuộc Ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để tìm bạn tên H2 (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mượn tiền tiêu xài. Khi đi qua nhà của anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991, Q phát hiện xe máy loại MAX, biển số 51X1-1943, màu hồng – trắng, để ngoài hiên nhà, không có người trông coi, trên xe có cắm sẵn chìa khoá. Lúc này Q nảy sinh ý định trộm cắp xe trên để bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó Q đi vào hiên nhà dẫn xe ra ngoài đường mở khoá điện rồi điều khiển xe chạy về hướng Cầu B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước để tìm chỗ tiêu thụ. Khi đến tiệm T1 phế liệu “Bích Phượng” thuộc Quốc lộ A, Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước do bà Phạm Thị Hồng P, sinh năm 1976, làm chủ. Tại đây Q bán chiếc xe biển số 51X1-1943 cho bà P với giá 700.000 đồng. Lấy tiền bán xe Quý đón xe khách đi về thành phố Đ, ăn uống và thuê nhà nghỉ hết 500.000 đồng, còn lại 200.000 đồng.
Ngày 12/9/2024, anh Nguyễn Văn Đ phát hiện xe bị mất nên đã làm đơn trình báo đến Công an xã T. Cùng ngày Trần Văn Q biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện đã đến Công an xã T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 17/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố Đồng Xoài định giá xe mô tô biển số 51X-1943.
Tại kết luận định giá tài sản số 65 ngày 19/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô biển số 51X-1943, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường, hư hỏng nhiều bộ phận, trị giá là 1.000.000 đồng.
Ngày 17/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ trưng cầu giám định đoạn video do anh Đ giao nộp ghi lại quá trình thực hiện hành vi trộm xe của Trần Văn Q.
Tại kết luận số 1016/KL-KTHS ngày 16/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận không tìm thấy dấu vết cắt, ghép chỉnh sửa nội dung trong tập tin gửi giám định.
Ngày 17/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ trưng cầu giám định số máy, số khung nguyên thủy của xe mô tô biển số: 51X1-1943 do Trần Văn Q lấy trộm của anh Nguyễn Văn Đ.
Tại kết luận số 1680/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của phòng KTHS Công an tỉnh B kết luận xác định số máy, số khung nguyên thủy của xe mô tô biển số: 51X1-1943, số máy: RNGKCG1VH91010357, số khung: VZS150FMG-1 010357.
Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ các tài sản, đồ vật gồm: 01 (một) xe mô tô (dạng xe Max) màu sơn: Trắng – hồng, số khung: RNGKCG1VH 91010357, số máy: VZS150FMG-1010357, kèm theo biển số: 51X1 – 1943. Tình trạng: đã qua sử dụng, hư hỏng nhiều bộ phận và còn hoạt động bình thường; Áo, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: màu xám, loại áo của nam, áo ngắn tay, có chữ ở bên trong cổ áo “ESSENTIALS FEAR OF GOD”, áo cổ tròn, phía trước, giữa ngực áo có dòng chữ “ESSENTIALS FEAR OF GOD”; Tình trạng: đã qua sử dụng; Quần, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: màu xám, có 02 túi quần đường trước và 01 túi quần đường sau của quần, phía mặt trước, ở giữa quần có chữ “ESSENTIALS”; Tình trạng: đã qua sử dụng; Dép, số lượng: 1 đôi; Đặc điểm: đôi dép có dòng chữ “ADIDAS”, màu đen có kích thước (10x27)cm; Tình trạng: đã qua sử dụng; Tiền mặt: 200.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Hồng P chủ tiệm ve chai “Bích Phượng” là người mua chiếc xe mô tô biển số 51X1 – 1943 của Trần Văn Q không có yêu cầu nhận lại số tiền 700.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q mức án từ 12 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và hiện đang bị tạm giam nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ vật chứng không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung công quỹ số tiền 200.000 đồng là tài sản do phạm tội mà có.
Bị cáo Trần Văn Q tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài: Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận điều tra, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, ngày 11/9/2024, Trần Văn Q có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 51X1-1943 của anh Nguyễn Văn Đ tại Ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, trị giá là 1.000.000 đồng, bản thân Q có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 1.000.000 đồng nhưng bị cáo Q có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Vì vậy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Q trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về quyết định hình phạt: Xét nhân thân bị cáo đã bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản lại tiếp tục phạm tội chưa thực sự ăn năn hối cải. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Hồng P chủ tiệm ve chai là người mua chiếc xe mô tô biển số 51X1 – 1943 của Trần Văn Q không có yêu cầu nhận lại số tiền 700.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng vụ án: Trả lại cho người bị hại anh Nguyễn Văn Đ 01 (một) xe mô tô (dạng xe Max) màu sơn: Trắng – hồng, số khung: RNGKCG1VH 91010357, số máy: VZS150FMG-1010357 kèm theo biển số: 51X1 – 1943.
Tịch thu sung công quỹ số tiền 200.000 đồng là tài sản do phạm tội mà có.
Cần tịch thu tiêu huỷ 01 áo thun nam màu ngắn tay đã cũ, 01 quần màu xám có 02 túi đã cũ, 01 đôi dép màu đen đã cũ không còn giá trị sử dụng.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13 tháng 9 năm 2024.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho người bị hại anh Nguyễn Văn Đ 01 (một) xe mô tô (dạng xe Max) màu sơn: Trắng – hồng, số khung: RNGKCG1VH 91010357, số máy: VZS150FMG-1010357 kèm theo biển số: 51X1 – 1943.
Tịch thu sung công quỹ số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) là tài sản do phạm tội mà có.
Tịch thu tiêu huỷ 01 áo thun nam màu ngắn tay đã cũ, 01 quần màu xám có 02 túi đã cũ, 01 đôi dép màu đen đã cũ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002309, quyển số 0047, ký hiệu D47/2017 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài và Ủy nhiệm chi lập ngày 19/9/2024 giữa Công an thành phố Đ và bên nhận là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài)
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Ngọc Linh |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
