Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 14/2025/DS-ST

Ngày 23 tháng 01 năm 2025

“V/v Tranh chấp Hợp đồng góp

hụi"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Tâm và ông Trịnh Văn Bé.

Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1263/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1023/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • + Bà Hồ Thị L (D), sinh năm 1977; địa chỉ: số E, Tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
  • + Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1971; địa chỉ: số E, Tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;

- Bị đơn:

  • + Bà Phạm Thị Bé N, sinh năm 1975; địa chỉ: số A, Tổ F, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang;
  • + Ông Trần Minh H, sinh năm 1970; địa chỉ: số A, Tổ F, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang;

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1981; địa chỉ: khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 05/11/2024 của Văn phòng C, tỉnh An Giang chứng nhận); có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 trình bày, bà tham gia 03 dây hụi của bà Bé N, ông Minh H làm chủ hụi, cụ thể:

  • - Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, ngày 19/10/2020 âm lịch, gồm 24 hụi viên, bà L tham gia 01 phần hụi, đóng 22 lần, số tiền góp thực tế là 48.700.000 đồng, hiện nay dây hụi đã kết thúc vào tháng 10/2022.
  • - Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, ngày 10/5/2021 âm lịch, gồm 24 hụi viên, bà L tham gia 01 phần hụi, đóng được 17 lần, với số tiền là 37.100.000 đồng. dây hụi hiện nay đã mãn vào tháng 4/2023.
  • - Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, ngày 02/11/2021 âm lịch, có 20 hụi viên, tham gia 01 phần hụi, dóng 12 lần, với số tiền thực tế là 26.550.000 đồng, dây hụi hiện nay đã mãn vào tháng 06/2023.

Trong đó, việc bà Bé N cho rằng, bà còn thiếu tiền của dây hụi 5.000.000 đồng/ tháng khui ngày 25/5/2021 âm lịch, với số tiến 20.000.000 đồng là không đúng, mà chỉ xác định còn nợ tiền hụi chết của dây hụi này 02 lần là 10.000.000 đồng, đối với số tiền bà Bé N cho rằng khi bán đất cho ông Nguyễn Văn B, bà Bé N đã trả cho ông D1 số tiền là 50.000.000 đồng là không chính xác, ông D1 chỉ nhận số tiền là 20.000.000 đồng có ông Nguyễn chứng K, còn số tiền bà L đã nhận 4.000.000 đồng do bà B1 Năm gửi cô 3 Ngót (sát nhà bà L), bà L công nhận có việc nhận số tiền này, đối với các dây hụi 3.000.000 đồng/tháng khởi khui ngày 19/5/2020 âm lịch thống nhất là đã đóng 22 lần như bà B1 Năm trình bày tại bản tự khai, đối với dây hụi 3.000.000 đồng, khởi khui ngày 10/5/2021 âm lịch chầu chính xác là 17 lần, việc bà Bé N cho rằng chỉ chầu có 16 lần là không đúng, bởi đã đóng cả 02 tháng nhuận là tháng 02/2022 âm lịch; đối với dây hụi 3.000.000 đồng, khui ngày 02/11/2021 âm lịch bà Bé N cho rằng bà L chỉ đóng được 11 lần là không đúng, bà L xác định đã đóng được 12 lần trong đó có đóng cả 02 tháng nhuận là tháng 02/2022.

Vì vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bà L xác định tổng số tiền bà Bé N đã trả là: 39.000.000 đồng, với số tiền hụi bà Bé N, ông H còn nợ hụi của 03 dây hụi với tổng số tiền theo đơn khởi kiện là 112.350.000 đồng - 39.000.000 đồng = 73.350.000 đồng; rút toàn bộ yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật, không yêu cầu tính lãi.

+ Ông Nguyễn Văn D1 là đồng nguyên đơn: Ông D1 thống nhất lời khai với bà L, không bổ sung gì thêm.

Bị đơn do ông Nguyễn Tấn P đại diện theo ủy quyền trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L, ông D1 công nhận bà L (tên sổ hụi là D), ông D1 có tham gia hụi của bà Bé N, còn ông H do ở ngoài đồng không là người trực tiếp thu hụi, trong sổ hụi có ghi tên ông H là do bà Bé N ghi vô để làm tin, ông công nhận đến tháng 10/2022 âm lịch bà N tuyên bố ngưng hụi, do thời điểm này là vào dịch Covid nên bà N không thể tiếp tục tràn hụi được, nên mới tuyên bố ngưng hụi. Việc bà L, ông D1 yêu cầu số tiền nợ hụi bà phải trả là 112.350.000 đồng là không đúng, chỉ có dây hụi 3.000.000 đồng/ tháng là ngày 19/10/2020 âm lịch, gồm 24 hụi viên, bà L tham gia 01 phần hụi, đóng 22 lần, số tiền góp hụi thực tế là 48.700.000 đồng là chính xác; đối với dây hụi 3.000.000 đồng/tháng khui ngày 10/5/2021 âm lịch, công nhận là có 24 hụi viên, bà L chơi 01 phần hụi, bà L chỉ đóng được 16 lần (chứ không phải 17 lần), số tiền hụi thực tế là 35.600.000 đồng; đối với dây hụi 3.000.000 đồng/tháng ngày 02/11/2021 âm lịch, công nhận có 20 hụi viên, bà L có chơi 01 phần, nhưng chỉ đóng được 11 lần (không phải 12 lần), số tiền hụi thực tế đã đóng là 24.650.000 đồng, nên tổng số tiền bà N xác định còn nợ hụi là 108.950.000 đồng.

Tuy nhiên, do bà N xác định bà L, ông D1 còn nợ số tiền hụi chết với số tiền 04 lần bà L chưa nộp là 20.000.000 đồng, của dây hụi 5.000.000 đồng/tháng ngày 25/5/2021, việc bà L, ông D1 xác định chỉ còn nợ tiền hụi là 10.000.000 đồng là không đúng. Đối với số tiền 50.000.000 đồng, bà N cho rằng đã trả cho ông D1 với số tiền là 50.000.000 đồng là có căn cứ, việc ông D1, bà L chỉ công nhận là nhận số tiền là 20.000.000 đồng là không có cơ sở.

Vì vậy, số tiền xác định bà Bé N còn nợ hụi của bà L, ông D1 là 29.950.000 đồng.

Đối với yêu cầu yêu cầu ông Minh H phải liên đới, thì xác định ông H không liên quan đến hụi, do ông H không biết việc bà Bé N chơi hụi, ông H không tham gia, việc tiền hụi là do bà Bé N tự thu, thực hiện chi tiêu cá nhân bà Bé N, ông H làm rẫy nên mọi chi tiêu trong gia đình là do ông H có từ việc làm rẫy mà có, nên ông H không có trách nhiệm liên đới cùng bà Bé N trả nợ.

Người làm chứng: các bà Trần Thị Hoảnh E, Trần Ngọc H1,Nguyễn Thị T, Huỳnh Thị T1 có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án: Đều xác định có tham gia các dây hụi do ông H, bà N làm chủ hụi, đến nay bà N, ông H đều chưa trả tiền hụi.

Ông Nguyễn Văn B xác định: đúng là thời điểm khoảng tháng 02/2022, ông có mua đất ruộng của bà N, ông H, ông đã thanh toán đủ cho ông H, bà B1 Năm tiền mua đất, sau đó tại sảnh văn phòng công chứng thì ông H, bà N có trả cho ông D1, bà L số tiền là 20.000.000 đồng, còn thanh toán cụ thể tiền gì, ông không biết.

Các tài liệu nguyên đơn chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Các sổ hụi tên chủ hụi Phạm Thị Bé N, Trần Minh H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa:

- Tại phiên tòa nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông H, bà Bé N phải liên đới thanh toán tiền hụi, xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 39.000.0000 đồng, rút yêu cầu tính lãi, đến nay xác định ông H, bà Bé N phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ hụi là 73.350.000 đồng; ngoài ra tại phiên tòa không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác tại phiên tòa.

- Người đại diện của bà N, ông H, xác định vẫn giữ nguyên lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, đối với tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà N đã thanh toán số tiền là 50.000.000 đồng, cũng như việc chứng minh việc chênh lệch số lần chầu hụi, số tiền hụi chết bà L chưa thực hiện, xác định đến nay không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh, cũng như công nhận các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã công bố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cũng như tài liệu, chứng cứ khác đã công bố tại phiên tòa là đúng, không có yêu cầu khác.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:

  • - Đối với nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 75 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Đối với bị đơn: Bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H ủy quyền ông Nguyễn Tấn P từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72, 75 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

  • - Công nhận hợp đồng hụi giữa bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 và bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H.
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 buộc bà Phạm Thị Bé N và ông Trần Minh H liên đới trả bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 số tiền nợ hụi 73.350.000 đồng.
  • - Đình chỉ xét xử, đối với số tiền 39.000.0000 đồng và đối với yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 khởi kiện yêu cầu bị đơn liên đới thanh toán tiền hụi, bị đơn đang cư trú tại địa bàn huyện C, tranh chấp phát sinh là dạng hợp đồng dân sự về hụi, họ, điêu, phường, có xác lập sổ hụi. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

[1.2] Về ủy quyền tham gia tố tụng: Bà N, ông H ủy quyền cho ông P tham gia tố tụng theo đúng quy định tại tại Điều 134, Điều 138 Bộ luật Dân sự và Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên ông P có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về xác định tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Các tài liệu, chứng cứ là các sổ hụi do nguyên đơn cung cấp, đại diện bị đơn xác định là có việc bị đơn là chủ hụi, thống nhất tài liệu Thẩm phán đã công bố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa nên sự thống nhất này của các đương sự là sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về xác lập hợp đồng góp hụi: Hội đồng xét xử, xét thấy: căn cứ lời trình bày của các đương sự, cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định có việc bà L tham gia hụi do bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H làm chủ hụi theo đúng quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự, theo đó: Họ, hụi, biêu, phường là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên, khi thực hiện góp hụi, giữa các đương sự có lập sổ hụi thể hiện tại các sổ hụi do bà L cung cấp ghi chủ hụi là “Phạm Thị Bé N”, “Trần Minh H”, quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại đơn khởi kiện bà L, ông D1 cho rằng: bà L là người đã trực tiếp góp hụi, chầu hụi tại 03 dây hụi cụ thể: Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, ngày 19/10/2020 âm lịch; dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, ngày 10/5/2021 âm lịch và dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, ngày 02/11/2021, nhưng người đại diện của ông H, bà Bé N, cũng như bản tự khai của bị đơn bà B1 Năm xác định số tiền bà L, ông D1 xác định số tiền mà bà B1 Năm còn nợ tại dây hụi ngày 19/10/2020 âm lịch là đúng, số lần góp hụi tại dây hụi ngày 10/5/2021 bà âm lịch và ngày 02/11/2021, bà L chỉ góp được 16 lần và 12 lần, cũng như việc bà L, ông D1 đã nhận tiền khi ông H, bà N chuyển nhượng đất cho ông B, bà N, ông H đã trả là 50.000.000 đồng, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 11/11/2024 Tòa án đã ấn định thời gian để người đại diện theo ủy quyền của bà N, ông H cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà N, ông H đã thực hiện thanh toán tiền hụi, số lần chầu hụi, nhưng hết thời hạn người đại diện của ông H, bà N đã không thực hiện, lời trình bày của bà N, cũng như người đại diện của bà N trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa cũng không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh, trong khi những người làm chứng đã được Tòa án ghi nhận ý kiến đều xác định đến nay các dây hụi đã mãn, nhưng bà N, ông H chưa thanh toán tiền hụi, phù hợp với lời trình bày của bà L, ông D1, cũng như việc ông D1, bà L nhận số tiền là 20.000.000 đồng, Tòa án đã ghi nhận ý kiến của người làm chứng là ông B xác định có chứng kiến việc bà N, ông H trả tiền cho nguyên đơn, số tiền chỉ là 20.000.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất, mặc dù bà N, ông H không công nhận về số lần góp hụi thực tế như bà L, ông D1 đã trình bày ở trên, cũng như số tiền đã trả tiền hụi cho bà L, ông D1, nhưng do bà N, ông H không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã thanh toán tiền hụi, tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc ghi lại quá trình góp hụi, nhưng lại xác định bà N là chủ hụi, điều này phù hợp với lời khai của người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của bà L, ông D1 là có căn cứ.

[2.2] Về xác định nghĩa vụ liên đới: tại các sổ hụi đều ghi rõ chủ hụi là “Phạm Thị Bé N”, “Trần Minh H”, điều này cũng phù hợp với lời trình bày của bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H, mặc dù bà N, ông H cho rằng việc bà làm chủ hụi là do lấy tiền để chữa bệnh, lo tiền thuốc, ông H cũng cho rằng không biết bà N chơi hụi, tiền hoa hồng từ hụi bà N lấy tiêu dùng vào việc cá nhân, mọi chi tiêu trong gia đình do ông làm vườn, rẫy mà có. Tuy nhiên, người đại diện của ông H, bà N xác định giữa ông H, bà N là vợ chồng, nên việc người đại diện của ông H cho rằng, ông H không có trách nhiệm liên đới với bà N, vì không biết bà N dùng tiền vào việc gì. Do vậy, việc bà N, ông H xác định ông H không liên quan đến các dây hụi là không có cơ sở, vì thế có căn cứ, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, ông D1 về việc buộc bà N, ông H phải có trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình và thực hiện nghĩa vụ của hụi viên, người tham gia hụi theo quy định tại Nghị định số 19/20219/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1, theo đó bà N, ông H phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi chưa thanh toán tại các dây hụi với tổng số tiền là 73.350.000 đồng.

[2.3] Tại đơn khởi kiện, bà L, ông D1 yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà N, ông H phải thanh toán nợ lãi, nhưng quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bà L, ông D1 rút yêu cầu khởi kiện về thanh toán nợ lãi và rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 39.000.000 đồng, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất đình chỉ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại các Điều 217, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự về yêu cầu tính lãi và một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 39.000.000 đồng.

[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Do yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 được chấp nhận, nên ông D1, bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí, riêng bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H phải chịu án phí dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự..

[2.4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147,217, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 (đối với bà Phạm Thị Bé N và ông Trần Minh H;

    - Buộc bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H phải có nghĩa liên đới trả bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 số tiền 73.350.000 đồng (bảy mươi ba triệu, năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi kể từ ngày 01/11/2022 và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 39.000.000 đồng (ba mươi chín triệu đồng).
  3. Về án phí sơ thẩm:
    • - Bà Hồ Thị L, ông Nguyễn Văn D1 được hoàn trả 2.800.000 đồng (hai triệu, tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023431 ngày 18/10/2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp.
    • - Bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 3.667.500 đồng (ba triệu, sáu trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm đồng), bà Phạm Thị Bé N, ông Trần Minh H có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: hồ sơ; VP;
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2025/DS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 14/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger