TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 22-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Ông Vũ Khắc Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 01 năm 2025 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu trung tâm: Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Tại Trại tạm giam Công an thành phố H vụ án hình sự thụ lý số: 303/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Phúc P, sinh ngày 07 tháng 5 năm 1988 tại Quảng Ninh. Nơi cư trú: Khu F phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phúc V và bà Nguyễn Thị T; có vợ Đỗ Thị Thanh T1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Án số 22/2020/HS-ST ngày 04/3/2020, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/11/2020, thi hành xong 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm ngày 25/9/2020; Án số 89/2022/HSST ngày 15/9/2022, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2023, thi hành xong 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm ngày 15/9/2022 (đều chưa được xoá); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 41/2012/HSST ngày 29/02/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2014, thi hành xong 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm ngày 15/6/2012 (đã xoá). Bị bắt tạm giữ ngày 22/8/2024, tạm giam ngày 28/8/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 45 phút ngày 22/8/2024, Công an phường N, quận L, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra đến khu vực trước cửa nhà số D T, phường N phát hiện Nguyễn Phúc P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N4-8768 đi từ trong ngõ B ra có biểu hiện nghi vấn phạm tội ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, P thả từ tay trái xuống đất, cách mũi bàn chân trái của P về phía trước khoảng 30cm một túi nilon màu trắng, mép viền màu đỏ kích thước 06cm x 03cm. Lực lượng Công an đã thu giữ túi nilon trên và kiểm tra thấy bên trong có 02 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là Heroine. Sau đó, tổ công tác dẫn giải P cùng vật chứng về trụ sở Công an phường N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã qua sử dụng và 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 98N4-8768.
Kết luận giám định số 1007/KL-KTHS ngày 28/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,19 gam, loại: Heroine.
Nguyễn Phúc P khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 22/08/2024, Nguyễn Phúc P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N4-8768 đi từ nhà đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích tìm mua ma túy H về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, P gặp và thỏa thuận mua ma túy Heroine với một người nam giới không quen biết (hiện không rõ căn cước, lai lịch). P điều khiển xe mô tô đi theo nam giới trên vào trong ngõ B T được khoảng 40m thì dừng lại đưa cho người nam giới số tiền 300.000 đồng. Người nam giới nhận tiền rồi bảo P đứng đợi còn anh ta điều khiển xe mô tô đi sâu trong ngõ khuất tầm nhìn. Khoảng 02 phút sau, người nam giới đi bộ ra đưa cho P 01 túi nilon màu trắng có mép viền đóng mở màu đỏ bên trong chứa 02 gói giấy nhỏ màu trắng và bảo P tự đi về. P nhận túi nilon biết bên trong các gói giấy đã có ma túy Heroine cần mua nên cầm ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực trước cửa nhà số D T thì lực lượng Công an phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 312/CT-VKSLC ngày 28 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Phúc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận mục đích mua ma tuý về để sử dụng không có mục đích nào khác và số tiền dùng mua ma túy do lao động có; điện thoại dùng để liên lạc với người thân.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phúc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc P mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói đã được niêm phong trong phong bì có dấu niêm phong số: 1007MT/PC09, có đầy đủ chữ ký của người có liên quan tại mặt sau.
Trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã qua sử dụng.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98N4-8768 thu giữ của Nguyễn Phúc P, kết quả điều tra xác định số khung, số máy của xe không trùng khớp với thông tin của biển kiểm soát. Xác minh xe mô tô trên được cấp biển kiểm soát 16P5 – 4564, chủ đăng ký xe là chị Nguyễn Thị Y địa chỉ: số C Lô A X, phường T, quận H, Hải Phòng. Chị Y khai xe mô tô trên đã bị trộm cắp vào khoảng thời gian cuối năm 2010 tại khu vực thôn K, xã Đ, huyện A, Hải Phòng. Biển kiểm soát 98N4-8768 có chủ đăng ký xe là chị Đỗ Thị Ngọc M, sinh năm 1989, trú tại Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị M khai xe mô tô có biển kiểm soát 98N4-8768 chị đã bán cách đây khoảng 03 năm không nhớ đã bán cho ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục xác minh xử lý sau; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với người nam giới bán ma túy cho P tại khu vực ngõ B T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở điều tra xử lý, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 22/8/2024, Nguyễn Phúc P1 đã có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số D T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Phúc P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung:
[3] Nhân thân bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá: Tại Bản án số 22/2020/HS-ST ngày 04/3/2020, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/11/2020, thi hành xong 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm ngày 25/9/2020 và tại Bản án số 89/2022/HSST ngày 15/9/2022, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/12/2023, thi hành xong 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm ngày 15/9/2022; do vậy bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm o (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.
[5] Bị cáo biết hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do là người sử dụng ma tuý, nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo có bố được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.
Về nhân thân:
[8] Nhân thân bị cáo có 03 lần bị kết án, trong đó 02 tiền án chưa xoá và 01 tiền án đã xoá: Bản án số 41/2012/HSST ngày 29/02/2012, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2014, thi hành xong 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm ngày 15/6/2012. Qua đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém.
Về hình phạt áp dụng:
[9] Từ những phân tích trên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung:
[10] Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Về xử lý vật chứng:
[11] Số ma túy khi bắt giữ bị cáo có khối lượng 0,19gam là H1, sau khi lấy 0,11gam đi giám định lượng còn lại cùng vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1007MT/PC09 có chữ ký của người có liên quan. Xét đây là vật cấm lưu hành, đối chiếu điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[12] Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã qua sử dụng có số IMEI: 970101601006457 thu giữ của bị cáo; xét tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội và bị cáo khai không sử dụng điện thoại vào hành vi phạm tội; đối chiếu điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên trả lại bị cáo.
Về án phí:
[13] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo:
[14] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Phúc P 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có dấu niêm phong số 1007MT/PC09 đựng số ma túy, vỏ bao gói còn lại sau giám định có đầy đủ chữ ký của người có liên quan tại mặt sau.
- - Trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đỏ đã qua sử dụng có số IMEI: 970101601006457.
(Theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L với Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phúc P tàng trữ trái phép chất ma túy
