|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-ST
Ngày 20/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn và ông Nguyễn Phước Đạt.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/HSST-QĐ ngày 08/01/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số: 216/TB-TA ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn N, tên gọi khác: không; sinh ngày 22/4/1985 tại tỉnh Thanh Hóa; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; số thẻ căn cước công dân: [...]; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Hoàng Văn V, sinh năm 1962; con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985. Bị cáo có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền sự: không; tiền án: 01 tiền án (Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự theo bản án số: 26/2023/HS-ST ngày 26/9/2023). Bị cáo đang chấp hành án treo tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa dưới sự theo dõi, giám sát của Ủy ban nhân dân xã C; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2018, Hoàng Văn N mua lại xe ô tô khách biển kiểm soát: 51B-252.39 của anh Võ Đăng N1 với giá 3.050.000.000đồng, xe lúc này do anh N1 đứng tên chủ sở hữu và đã thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q - chi nhánh B, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2017 (giấy chứng nhận đăng ký xe do ngân hàng giữ). N trả trước cho anh N1 850.000.000 đồng, số tiền còn lại vào ngày 20 hàng tháng N chuyển tiền vào tài khoản của chị Nguyễn Nữ Hải Hoàng S (vợ anh N1) để thanh toán tiền gốc và lãi cho ngân hàng. Sau khi mua, N sử dụng xe vào việc kinh doanh vận tải hành khách. Được một thời gian, do không có tiền trả nên ngân hàng không tiếp tục cấp giấy biên nhận thế chấp và bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên cho N.
Khoảng đầu tháng 8/2023, vì muốn đưa xe ôtô vào kinh doanh nên N nảy sinh ý định mua giấy đăng ký xe giả. N sử dụng điện thoại di động đăng nhập vào Facebook cá nhân của mình (N không nhớ tên facebook) để tìm hiểu thì thấy có trang Facebook giới thiệu làm giấy đăng ký xe giả (Nam không nhớ tên facebook), N sử dụng tài khoản Facebook của mình liên hệ đặt mua 01 giấy chứng nhận đăng ký xe giả. Qua trao đổi, chủ tài khoản Facebook trên đưa ra giá 1.000.000đồng. N đồng ý và cung cấp thông tin bằng cách chụp và gửi hình bản photo của giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô thật cho chủ tài khoản Facebook trên để điền thông tin vào giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả (tên chủ xe là Võ Đăng N1, biển số đăng ký 51B-252.39 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 28/12/2017, số: 336485) và thỏa thuận giao hàng về địa chỉ: Tổ B, thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 05 ngày sau, nhân viên giao hàng (Nam không rõ nhân thân, mặt đeo khẩu trang) đến nhà giao hàng. N kiểm tra thông tin trên giấy đăng ký xe giả thấy đúng và thanh toán số tiền 1.000.000 đồng cho nhân viên giao hàng.
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 08/02/2024, N đang điều khiển xe ô tô khách biển số 51B-25239 trên đường C - Quảng Ngãi thuộc địa phận xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi thì Tổ Cảnh sát giao thông số 3, thuộc Phòng hướng dẫn Tuần tra kiểm soát Giao thông đường bộ, Cục C tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra điều kiện vận tải hành khách. Nam xuất trình 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số: 336485, ghi do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 28/12/2017 thì bị Tổ Cảnh sát giao thông nghi ngờ giấy này là giả nên đã tạm giữ, lập biên bản sự việc và chuyển hồ sơ cho Công an Công an huyện T để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Hoàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Tại bản Kết luận giám định số 204/KL-KTHS, ngày 13/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
Giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” gửi giám định, số: 336485, ghi do Công an Thành phố H cấp ngày 28/12/2017 cho xe mang BKS: 51B-252.39, tên chủ xe: Võ Đăng N1 (ký hiệu A) là giấy giả.
* Tình tiết liên quan có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án:
- - Đối với người mà N liên hệ mua Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và người giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, trong quá trình điều tra N khai không biết tên, địa chỉ cụ thể người này nên không thể triệu tập để làm việc. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.
- - Đối với hành vi Hoàng Văn N không có giấy phép lái xe và hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe ô tô của Hợp tác xã vận tải ô tô N (Hoàng Văn N là thành viên của Hợp tác xã), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển cho Cục C1, Bộ C2 để xem xét, xử lý theo quy định.
* Về tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng của vụ án gồm:
- - 01 xe ô tô khách giường nằm, nhãn hiệu Thaco, biển kiểm soát 51B-252.39 do Võ Đăng N1 đứng tên chủ sở hữu và hiện tại xe này đang thế chấp tại ngân hàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có văn bản yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh B, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp hợp đồng thế chấp và yêu cầu của ngân hàng đối với xe ô tô nhưng ngân hàng không trả lời. Qua làm việc, anh Võ Đăng N1 và Hoàng Văn N thống nhất trả lại xe cho N1 quản lý sử dụng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe cho anh N1 quản lý, sử dụng.
- - 01 giấy chứng nhận kiểm định số: 0283795 có giá trị đến ngày 01/8/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao lại cho Cục C1, Bộ C2 để xem xét, xử lý vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn N và Hợp tác xã vận tại ô tô N theo quy định.
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 336485, ghi do Công an Thành phố H cấp ngày 28/12/2017 cho xe mang biển kiểm soát: 51B-252.39, tên chủ xe: Võ Đăng N1, là giả, là chứng cứ và chuyển kèm hồ sơ vụ án.
* Phần dân sự: Không.
Tại cáo trạng số: 45/CT-VKS-TN ngày 25/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” của bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị và tổng hợp hình phạt của 02 bản án theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- - Bị cáo thống nhất về tội danh và khung hình phạt theo nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng hình sự: Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Do không trả được nợ cho ngân hàng (xe đang thế chấp tại ngân hàng, ngân hàng đang giữ giấy tờ xe) nên bị cáo Hoàng Văn N không được ngân hàng cấp giấy biên nhận thế chấp và bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô. Do đó, để tiếp tục kinh doanh, bị cáo đã sử dụng mạng Facebook đặt mua giấy đăng ký xe giả. Vào ngày 08/02/2024, khi đang điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát: 51B-25239 trên đường C - Quảng Ngãi thuộc địa phận xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi thì Tổ Cảnh sát giao thông số 3, thuộc Phòng hướng dẫn tuần tra kiểm soát Giao thông đường bộ, Cục C tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra, bị cáo đã sử dụng giấy tờ giả là giấy chứng nhận đăng ký xe số: 336485, ghi do Công an thành phố H cấp ngày 28/12/2017, xuất trình để đối phó với lực lượng chức năng và bị phát hiện. Tại bản Kết luận giám định số 204/KL-KTHS, ngày 13/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ”
gửi giám định, số: 336485, ghi do Công an Thành phố H cấp ngày 28/12/2017 cho xe mang BKS: 51B-252.39, tên chủ xe: Võ Đăng N1 (ký hiệu A) là giấy giả. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được tại hồ sơ nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận hành vi của bị cáo cấu thành tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra; ngoài ra, bị cáo có cha là ông Hoàng Văn V là người có công, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, có ông ngoại (Lê Trọng T2) là liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này thuộc trường hợp “Tái phạm”; đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của án treo về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thì bị cáo lại tiếp tục phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Điều này thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy khi quyết định hình phạt cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục bị cáo trong việc chấp hành pháp luật cũng như để phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về tổng hợp hình phạt: Tại thời điểm bị cáo Hoàng Văn N thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chấp hành hình phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” của bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị xử phạt hình phạt tù có thời hạn; do đó, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[8] Tình tiết khác trong vụ án:
- - Đối với người mà N liên hệ mua Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và người giao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, trong quá trình điều tra N khai không biết tên, địa chỉ cụ thể người này nên không thể triệu tập để làm việc. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với hành vi Hoàng Văn N không có giấy phép lái xe và hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe ô tô của Hợp tác xã vận tải ô tô N (Hoàng Văn N là thành viên của Hợp tác xã), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chuyển cho Cục C1, Bộ C2 để xem xét, xử lý theo quy định là phù hợp nên không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với xe ô tô biển kiểm soát 51B-252.39 do anh Võ Đăng N1 đứng tên chủ sở hữu và đang thế chấp tại ngân hàng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có văn bản yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh B, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp hợp đồng thế chấp và yêu cầu của ngân hàng đối với xe ô tô nhưng ngân hàng không trả lời. Qua làm việc, anh N1 và bị cáo thống nhất trả lại xe cho anh N1 quản lý sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh N1 quản lý, sử dụng; bị cáo và anh N1 đều không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với giấy chứng nhận kiểm định số: 0283795 có giá trị đến ngày 01/8/2024: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao lại cho Cục C1, Bộ C2 để xem xét, xử lý vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn N và Hợp tác xã vận tại ô tô Nghĩa Phát là phù hợp theo quy định pháp luật.
- - Đối với giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 336485, ghi do Công an Thành phố H cấp ngày 28/12/2017 cho xe mang biển kiểm soát: 51B-252.39, tên chủ xe: Võ Đăng N1 là giả, là chứng cứ và chuyển kèm hồ sơ vụ án.
[10] Các ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Căn cứ khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chấp hành hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của bản án số: 26/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
Căn cứ khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Ngân |
Bản án số 14/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự: sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 14/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
