TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số:14/2024/HSPT-CTN Ngày 09 - 12-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Lưu Anh Tuấn và bà Đinh Thị Như Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2024/TLPT-HS-CTN ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo T do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa.
1. Bị cáo: T; Giới tính: N (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày 01-9-1999, tại Gia Lai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Làng B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Thẻ CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Banar; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm nông. Con ông N1 (Đã chết) và bà Đ, sinh năm 1979. Bị cáo có vợ tên là H và có 02 chung, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Chị H, sinh năm 2004; Trú tại: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
3. Người phiên dịch: Bà Nay H1, địa chỉ: Thôn D, xã A, Thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2016, qua một thời gian quen biết nói chuyện với nhau, T với H nảy sinh tình cảm yêu đương. Đến cuối năm 2017, và H có mong muốn về sống chung như vợ chồng với nhau nên đã thông báo bố mẹ gia đình hai bên, ban đầu hai bên gia đình không đồng ý vì H còn nhỏ tuổi nhưng sau đó thấy T và H có tình cảm với nhau nên đã đồng ý không cấm cản. Đến tháng 01/2018 (không nhớ rõ ngày), T và H tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương rồi chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà bố, mẹ của H thuộc làng B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai nhưng chưa đăng ký kết hôn vì H chưa đủ tuổi. Sau khi tổ chức lễ cưới thì T và H phát sinh quan hệ tình dục tự nguyện lần đầu tiên. Sau đó, cả hai quan hệ tự nguyện với nhau nhiều lần (không nhớ thời gian và số lần quan hệ) cho đến khi H phát hiện mình có thai. Ngày 05-10-2018, H sinh con gái đặt tên là N. Sau thời gian mang thai, sinh con, thì T và H đã thực hiện hành vi giao cấu với nhau nhiều lần ở làng B, xã H, huyện Đ (không rõ thời gian và số lần thực hiện).
Ngày 21-8-2023, T và H đi đến Phòng Tư pháp xã Hải Yang để làm giấy khai sinh cho con gái thì bị cán bộ tư pháp xã H phát hiện thời điểm HLAO sinh con chưa đủ 16 tuổi nên đã báo cáo cho Công an xã H lập biên bản và chuyển toàn bộ nội dung đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản Kết luận giám định huyết thống số 1976 ngày 10-10-2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: N là con đẻ của H và T.
Tại Bản Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 2120 ngày 12-10-2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Độ tuổi của H tại thời điểm giám định (tháng 10/2023) là 19 năm 6 tháng đến 20 năm 6 tháng.
Căn cứ Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thời điểm T có quan hệ tình dục lần đầu với H (tháng 01/2018) thì tuổi của H là 14 năm 9 tháng.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 02-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HS-ST ngày 30 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa đã quyết định:
-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
-Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo T 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí; quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định pháp luật.
3. Kháng cáo của bị cáo T và bị hại Hlao: Trong thời hạn kháng cáo bị cáo, bị hại kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, bị cáo thấy hối hận vì hành động của mình, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo và bổ sung thêm kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
4.2. Bị hại giữ nguyên kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo, bổ sung thêm kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4.3. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các tình tiết mới mà bị cáo đã cung cấp ở giai đoạn phúc thẩm. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và bị hại xin được giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại xin được hưởng án treo; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 30 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa về phần hình phạt cho bị cáo theo đó giảm cho bị cáo từ 4 đến 6 tháng tù.
-Về án phí phúc thẩm: Bị cáo T và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
T và H có quan hệ yêu đương nên T và H đã xin cha mẹ hai bên gia đình tổ chức đám cưới. Đến tháng 01/2018 (không nhớ rõ ngày), T và H tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương rồi chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà bố, mẹ của H. Vì nghĩ là vợ chồng nên giữa T và H đã đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau dẫn đến H mang thai và sinh cháu N2 vào ngày 05/10/2018. Sau thời gian mang thai, sinh con thì giữa T và H đã thực hiện hành vi giao cấu với nhau nhiều lần (không nhớ rõ thời gian và số lần thực hiện)
Thời điểm Thư có quan hệ tình dục lần đầu với H (tháng 01/2018) thì H được 14 năm 09 tháng tuổi.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a, d Khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về kháng cáo của bị cáo và bị hại
[2.1] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Bộ luật hình sự cho bị cáo là đúng quy định. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, cung cấp cho Tòa án tài liệu thể hiện bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ xác nhận. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và khoan hồng của Nhà nước trong xét xử.
[2.2] Đối với kháng cáo xin hưởng án treo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, trái đạo đức, đã xâm phạm đến thể chất, tinh thần, sinh lý, sự phát triển bình thường của chị H. Hành vi của bị cáo cần phải bị cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo cũng như làm bài học cho những ai có ý định chung sống như vợ chồng với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại xin được hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại về xin giảm nhẹ hình phạt sửa bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Điều luật áp dụng
- - Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo T.
- - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo về xin giảm nhẹ hình của bị cáo T, bị hại H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HS-ST ngày 30 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa.
- - Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
- - Xử phạt bị cáo T 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí:
Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 14/2024/HSPT-CTN ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 14/2024/HSPT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tảo hôn, sinh con dẫn đến đi đăng ký khai sinh bị phát hiện
