|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 09-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Na .
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Vân;
Bà Trương Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vinh Thịnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 700/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 10/3/1993; tại: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Đảng viên: không; Thẻ CCCD: [...]; cấp ngày: 28/6/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội- Bộ C; Nơi thường trú/ Nơi ở hiện tại: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Bố đẻ: Nguyễn Văn T (đã chết); Mẹ đẻ: Lê Thị M (sinh năm 1974; trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa); Vợ: Lê Thị T1 (sinh năm 1991); Con: có 02 con (sinh năm 2012 và 2021; cùng trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa); Anh chị em ruột: Bị can là con thứ cả trong gia đình có 03 anh, em; Tiền án/ tiền sự: không; Bị can bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024, đến ngày 06/5/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Hồ Văn H – Sinh năm 1992. Vắng mặt.
Trú tại: PD8, NT P, tổ F, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02h15’ ngày 09/4/2024 tại đoạn đường tỉnh lộ 206 thuộc xóm Đ, huyện Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Tổ công tác Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng (Đội An ninh, Đ và Công an xã Đ) thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phát hiện 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING màu trắng, biển kiểm soát 37A-49.475 có dấu hiệu nghi vấn. Tổ công tác đã ra tín hiệu yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra: trên xe có 05 người đàn ông, trong đó người điều khiển xe ô tô là Nguyễn Văn P (sinh ngày 10/3/1993; trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa) và 04 người đàn ông quốc tịch Trung Quốc không xuất trình được giấy tờ xuất nhập cảnh hợp pháp theo quy định, gồm: Chu Quốc B (SN 1988; trú tại: thôn L, trấn V, huyện B, Q, Trung Quốc); Dương Tử H1 (SN 1989; Trú thôn L, trấn Q, huyện Q, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc); Yến L (SN 1991; Trú tại thôn Q, hương V, huyện Q, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) và Lý Tư H2 (SN 1984; Trú tại: thôn Q, hương V, huyện Q, T, Trung Quốc). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan và đưa tất cả về trụ sở Công an xã Đ để làm rõ sự việc.
Quá trình điều tra, xác định:
Bản thân Nguyễn Văn P là lái xe taxi dịch vụ, sáng ngày 07/4/2024, P sử dụng xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING màu trắng, biển kiểm soát 37A-494.75 để đón khách (01 người phụ nữ) từ khu vực bến xe N, Hà Nội đưa lên tỉnh Cao Bằng. Khi đang trên đường đi thì có một người đàn ông (P không quen biết) sử dụng số điện thoại 0348.835.xxx liên lạc và đặt vấn đề thuê P đến huyện T, Cao Bằng để đón người nước ngoài không có giấy tờ nhập cảnh theo quy định đưa đến thành phố C, giao cho đối tượng khác và được hứa trả tiền công là 4.000.000đ, người đàn ông trên yêu cầu P khoảng 02 giờ ngày 08/4/2024 đến địa điểm mốc lộ giới Km21 trên đường vào thị trấn T, Cao Bằng để đón người, P đồng ý.
Sau khi trả khách xong tại thành phố C, P một mình điều khiển ô tô đi theo định vị trên điện thoại để đi huyện T, Cao Bằng. Khi đến khu vực mốc lộ giới Km21 P có chụp ảnh khu vực này và gửi cho em trai tên Nguyễn Văn N (Sinh năm 1995, trú tại: xóm K, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An) để hỏi đường đi vào huyện T vì trước đây N từng đến tỉnh Cao Bằng, tuy nhiên N không rõ địa điểm này. Khoảng gần 24 giờ ngày 07/4/2024, P đến thị trấn T và tìm nhà nghỉ để đợi đón người, về sau người đàn ông sử dụng số điện thoại 0348.835.xxx thông báo cho P biết người nước ngoài chưa đến và yêu cầu P tiếp tục đợi. Khoảng 10 giờ ngày 08/4/2024, người đàn ông trên tiếp tục liên lạc với P thông báo khoảng 02 giờ ngày 09/4/2024 mới đón được người. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, P trả phòng nghỉ rồi đi ra một quán nước tại thị trấn T uống nước đợi. Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 09/4/2024, P điều khiển xe ô tô đến khu vực mốc lộ giới Km 21 ngồi trên xe đợi ở đó. Khoảng 30 phút sau có 03 người đàn ông (P không quen biết) mỗi người điều khiển 01 xe máy chở 04 người đàn ông (01 xe chở 02 người, 02 xe mỗi xe chở 01 người) đến và dừng ở phía sau xe của P. 04 người đàn ông tự mở cửa xe ô tô của P và lên xe ngồi, còn 03 người đàn ông đi xe máy ra về. Sau khi đón được người P mới biết đó là người quốc tịch Trung Quốc nhập cảnh trái phép vì thấy những người này nói tiếng Trung Quốc, khi P chở người đến địa phận xóm Đ, huyện Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang về hành vi đưa người Trung Quốc nhập cảnh trái phép.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã lập hồ sơ đề nghị truy tố Nguyễn Văn P về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Bản Cáo trạng số: 98/CT-VKSCB-P1 ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Nguyễn Văn P về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép là đúng với hành vi đã thực hiện.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hồ Văn H: Trong quá trình điều tra đã trình bày về nguồn gốc chiếc xe ô tô Biển kiểm soát 37A – 494.75 là của Hồ Văn H, do đi làm ăn xa nên có ý định chuyển nhượng lại chiếc xe trên cho bị cáo, nhưng hai bên chưa làm hợp đồng chuyển nhượng và bị cáo chưa trả đủ tiền, việc bị cáo sử dụng xe vào thực hiện hành vi vi phạm ông không biết, đề nghị được nhận lại chiếc xe và xin đề nghị xét xử vắng mặt.
Kết thúc việc hỏi tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, hóa giá lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại Iphone Xs Max và 01 điện thoại Nokia của bị cáo Nguyễn Văn P.
- Trả lại cho Hồ Văn H 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, Biển kiểm soát 37A – 494.75, 01 thẻ Micro SDHS 32GB của xe ô tô Biển kiểm soát 37A – 494.75, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ do ông Hồ Văn H không biết khi bị cáo sử dụng xe, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án về động cơ, mục đích, thời gian, địa điểm cũng như cách thức đưa người nhập cảnh trái phép vào lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 09/4/2024, Nguyễn Văn P một mình sử dụng xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING màu trắng, biển kiểm soát 37A-494.75 đến mốc lộ giới Km 21 thuộc huyện T, tỉnh Cao Bằng đón được 04 (bốn) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam để đưa về thành phố C, với số tiền công theo thỏa thuận là 4.000.000đ (bốn triệu đồng); bản thân P nhận thức được rõ 04 (bốn) người mình vừa đón là nước ngoài nhập cảnh trái phép, nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích hưởng số tiền công theo thỏa thuận. Khi đi đến địa phận xóm Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng phát hiện kiểm tra, bắt quả tang. Do chưa đưa được người đến thành phố C nên P chưa nhận được tiền công.
Hành vi đón, đưa người quốc tịch nước ngoài vào lãnh thổ nước C1 mà không làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định của pháp luật với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm pháp luật, khi được thuê đón những người đàn ông Trung Quốc, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình nhưng vì mong muốn được hưởng lợi nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình gây ra. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục bị cáo nói riêng và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đánh giá vai trò tham gia vụ án của bị cáo: Qua xem xét hồ sơ vụ án, bị cáo không phải là người trực tiếp giao dịch trong việc đưa đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Tất cả giao dịch thông qua người đàn ông có số điện thoại 0348.835.xxx, tuy nhiên trong vụ án này cơ quan chức năng chưa điều tra xác minh được người này. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét đối với bị cáo.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo có đơn xin xác nhận của UBND xã về hoàn cảnh gia đình bị cáo, vợ bỏ đi không rõ đi đâu, một mình nuôi hai đứa con, ngoài ra ông nội của bị cáo là ông Nguyễn Văn K là người có công với Cách mạng, được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, có Giấy chứng nhận gia đình gương mẫu bảo vệ an ninh tổ quốc năm 1978, 1979, có Giấy chứng nhận đeo Huân chương, huy chương, Kỷ niệm kháng chiến, Huy hiệu chiến sĩ Đ... Xét thấy: Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội; vai trò, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này, bị cáo là lái xe, vì mong muốn hưởng lợi, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, có vai trò giúp sức cho người khác đưa đón người nhập cảnh trái phép vào lãnh thổ Việt Nam. Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ, trong đó có một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán nhân dân tối cao ngày 15/5/2018 Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hội đồng xét xử nhận định: không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo theo như mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng là phù hợp, như vậy cũng đủ sức răn đe để bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, trở thành người công dân có ích, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Điều đó cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng một trong các hình phạt bổ sung trên đối với bị cáo.
[6] Việc xử lý vật chứng:
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Cần tịch thu, hóa giá lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại Iphone Xs Max và 01 điện thoại Nokia của bị cáo Nguyễn Văn P do bị cáo sử dụng cả hai chiếc điện thoại vào liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
- Trả lại cho Hồ Văn H 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, Biển kiểm soát 37A – 494.75, 01 thẻ Micro SDHS 32GB của xe ô tô Biển kiểm soát 37A – 494.75, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ do ông Hồ Văn H không biết khi bị cáo sử dụng xe, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng B2.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0348.835.xxx gọi điện và thuê P đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép: quá trình điều tra, xác định được chủ thuê bao là Nguyễn Thị D (sinh ngày 24/7/1976, giới tính: Nữ; trú tại: xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng). Duyệt khai nhận không đăng ký để sử dụng số điện thoại 0984.637.xxx. Quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ.
Đối với 03 đối tượng điều khiển 03 xe máy chở theo 04 (bốn) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến và giao cho P: Quá trình điều tra không thu thập được thông tin gì về những người này nên không có cơ sở để điều tra xác minh, làm rõ.
Đối với 04 (bốn) công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam: Phòng C ra Quyết định an tỉnh đã trả lại người nhập cảnh trái phép về vi phạm hành chính về hành vi nhập cảnh trái phép, sau đó được trao trả về Trung Quốc theo quy định.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép".
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P, xử phạt bị cáo 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:
- -Tịch thu, hóa giá lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại Iphone Xs Max và 01 điện thoại Nokia của bị cáo Nguyễn Văn P được đựng trong 01 phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max và 01 điện thoại Nokia của bị can Nguyễn Văn P”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 dấu hình tròn mực đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.
-
- Trả lại cho ông Hồ Văn H:
- + 01 xe ô tô Biển kiểm soát 37A – 494.75, loại xe: Ô tô con, nhãn hiệu KIA, số loại MORNING, màu sơn trắng, dung tích xi lanh: 1248 cm3, số máy: G4LAEP075613, số khung: RNYTB51M5EC052318, số chỗ ngồi: 5, năm sản xuất: 2014, xe đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết xước nhỏ đã cũ (có 01 chìa khóa xe kèm theo). Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C thu giữ giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua kiểm tra thực tế số khung, số máy của xe ô tô trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 06/5/2024 của Phòng C2 Công an tỉnh C.
- + 01 thẻ Micro SDHC 32GB được đựng trong phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi: “01 thẻ Micro SDHC 32GB của xe ô tô Biển kiểm soát 37A – 494.75”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 dấu hình tròn mực đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.
- + 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 0498725, cấp ngày 16/02/2024.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn P 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số [...], cấp ngày 25/9/2020.
Xác nhận các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 19 ngày 12/11/2024.
-
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo đối với phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình được ghi trong bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Na |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nông Thị Vân Trương Thị Hiền |
Lê Na |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 09/4/2024, Nguyễn Văn P một mình sử dụng xe ôtô nhãn hiệu KIA MORNING màu trắng, biển kiểm soát 37A-494.75 đến mốc lộ giới Km 21 thuộc huyện T, tỉnh Cao Bằng đón được 04 (bốn) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam để đưa về thành phố C, với số tiền công theo thỏa thuận là 4.000.000đ (bốn triệu đồng); bản thân P nhận thức được rõ 04 (bốn) người mình vừa đón là nước ngoài nhập cảnh trái phép, nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích hưởng số tiền công theo thỏa thuận. Khi đi đến địa phận xóm Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng phát hiện kiểm tra, bắt quả tang. Do chưa đưa được người đến thành phố C nên P chưa nhận được tiền công.
