Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Hữu Dẫm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tuấn, ông Hồ Văn Úc.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Huỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang với điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ - Công an thị xã T, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 80/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Quang V (Sal), sinh ngày 14/4/1996 tại An Giang. Nơi cư trú: Tổ C, ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Văn N (đã chết) và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1970; vợ là Trần Thị Thùy Q, sinh năm 1998 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Lê Thị Hồng L, sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ C, ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Phan Mai Huỳnh Như Ý, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số B đường H, Khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi làm việc: Tiệm V2, Số A đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);

Ông Huỳnh Khánh B, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số F đường Đ, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số A đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1970; nơi cư trú: ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quang V là em ruột, cùng sống chung nhà với Lê Thị Hồng L (chị ruột của V) ở ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang. Khoảng 08 giờ ngày 15/8/2024, L đi vắng, V nảy sinh ý định trộm cắp tiền của L để chơi game trực tuyến, V đi vào phòng ngủ của L, mở cửa tủ quần áo, mở ngăn tủ nhỏ bên trong (gắn sẵn chia khóa), lấy trộm 30.000.000 đồng, 01 vòng đeo tay bằng vàng 24Kara trọng lượng 05 chỉ; 01 chiếc lắc đeo tay vàng 24Kara, trọng lượng 02 chỉ 50 phân; 01 chiếc lắc đeo tay vàng 18Kara trọng lượng 03 chỉ 95 phân; 01 chiếc lắc tay vàng Ý trọng lượng 16,40gam; 01 dây chuyền bằng vàng 18Kara trọng lượng 02 chỉ 40 phân có gần mặt dây chuyền hình con ngựa bằng vàng 18Kara trọng lượng 01 chỉ 03 phân. Sau khi lấy trộm, V đem đến tiệm V2 (số A, N, phường M, thành phố L), được Phan Mai Huỳnh Như Ý (nhân viên tiệm V2) nhận cầm với số tiền 82.273.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ ngày 16/8/2024, V tiếp tục đến tiệm V2 bán số nữ trang trên, lấy thêm 17.555.000 đồng, tiêu xài cá nhân; sau đó, V sử dụng zalo nhắn tin với L, cho biết đã lấy trộm tài sản. Ngày 26/8/2024, bị hại đến Công an xã C trình báo sự việc. Qua làm việc, V khai nhận hành vi lấy trộm.

Ngày 26/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với V về tội Trộm cắp tài sản.

Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S màu bạc; 01 túi vải màu đen.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 916 ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 vòng đeo tay bằng vàng 24Kara trọng lượng 05 chỉ, trị giá: 35.600.000 đồng; 01 chiếc lắc đeo tay vàng 24Kara, trọng lượng 02 chỉ 50 phân, trị giá: 17.800.000 đồng; 01 chiếc lắc đeo tay vàng 18Kara trọng lượng 03 chỉ 95 phân, trị giá 12.597.000 đồng; 01 chiếc lắc tay vàng Ý trọng lượng 16,40gam, trí giá: 20.088.000 đồng. 01 dây chuyển bằng vàng 18Kara trọng lượng 02 chỉ 40 phân, trị giá: 10.440.000 đồng; 01 mặt dây chuyền hình con ngựa bằng vàng 18Kara trọng lượng 01 chỉ 03 phân, trị giá: 3.303.000 đồng. Tổng giá trị: 99.828.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận 40.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, lời khai bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Trần Văn B1, Trần Văn V1, S, Trương Thanh H1 Cáo trạng số: 82/CT-VKSTC ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố Lê Quang V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại L khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị H xin giảm nhẹ hình phát cho bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Lê Quang V, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 túi vải màu đen; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S màu bạc, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Trong phần tranh luận, bị cáo V không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Lê Quang V bị Cơ quan điều tra - Công an thị xã T khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại khu vực ấp H, xã C, thị xã T, An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại

gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các vật chứng đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 08 giờ ngày 15/8/2024 tại nhà thuộc ấp H, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, lợi dụng lúc L đi vắng, bị cáo V nảy sinh ý định trộm cắp tiền của L để chơi game trực tuyến nên đi vào phòng ngủ của L, mở ngăn tủ nhỏ (gắn sẵn chìa khóa) bên trong tủ quần áo, lấy trộm tiền 30.000.000 đồng và các tài sản khác có tổng giá trị 99.828.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 129.828.000 đồng. Sau khi lấy trộm, V mang tài sản đến tiệm V2 nhận cầm và bán để tiêu xài cá nhân.

Hành vi nêu trên của bị cáo V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm (tội phạm nghiêm trọng).

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo V là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe nhưng không tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo V thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo V đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, đồng thời, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo thuộc thành phần lao động là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần

có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy, bị cáo V không có tài sản, nghề nghiệp và không thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15S màu bạc, đã qua sử dụng có nội dung tin nhắn Zalo được trích xuất thể hiện việc bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên, không trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; xét thấy, việc trả lại vật chứng cho chủ sở hữu không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án. Xét, trả lại cho bị cáo V.

Đối với 01 túi vải màu đen không có giá trị sử dụng, xét, tịch thu, tiêu hủy.

Theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với Phan Mai Huỳnh Như Ý (nhân viên tiệm V2) khi nhận cầm cố và mua vàng của V, không biết do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Quang V (S) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lê Quang V (Sal) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 26/8/2024).

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho bị cáo V 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A15S màu bạc, IMEI 1: 865787059028379, IMEI 2: 865787059028361, đã qua sử dụng; Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi vải màu đen, đã qua sử dụng.

(Đặc điểm tang vật theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lê Quang V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND TX. Tân Châu (2);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 14 ngày 27/11/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger