|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 22-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giàng A Vư
2. Ông Lò Văn Chiên
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Tẩn Tả M; giới tính: Nữ; sinh năm 1984; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKNKTT: bản T, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi ở: Bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Chau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Tẩn Chỉn S, sinh năm 1962 và con bà Tẩn Sì M1, sinh năm 1964; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng: Chẻo V, sinh năm 1984; Con có 04 con: con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 18/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu tiếp tục tạm giam cho đến nay. Có mặt.
-
Họ và tên: Lý Văn H; giới tính: Nam; sinh năm 2004; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lý Văn M2, sinh năm 1980 và con bà Nông Thị D, sinh năm 1985; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 21/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu tiếp tục tạm giam cho đến nay. Có mặt.
-
Họ và tên: Vàng Văn N; giới tính: Nam; sinh năm 2002; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản C, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Vàng Văn T, sinh năm 1982 và con bà Vàng Thị S1, đã chết; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 21/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu tiếp tục tạm giam cho đến nay. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nông Thị Minh H1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 11/6/2024, Tẩn Tả M, sinh ngày 01/01/1984 đang ở lán ruộng của gia đình tại bản Chảng Phàng, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu thì có một người đàn ông không rõ lai lịch đến gặp. Người đàn ông đó nói có Heroine bán, M đã mua của người đàn ông đó 04 gói Heroine giá 300.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời. Mua được H2, M cất giấu trong túi nilon màu trắng đựng thân, rễ củ cây khô treo trên cột lán ruộng, không cho ai biết.
Chiều ngày 11/6/2024, Vàng Văn N, sinh ngày 06/11/2002, trú tại bản Co Muông, xã N, huyện P đến nhà Lý Văn H, sinh ngày 21/9/2004 ở bản M, xã N, huyện P tuốt lúa hộ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong H và N rủ nhau đi mua Heroine về cùng sử dụng. Sau đó, H và N đi bộ đến bản bản Chảng Phàng, xã S, huyện P tìm mua Heroine. Khi đến nơi, H đưa cho N số tiền 100.000 đồng, N góp thêm số tiền 100.000 đồng, được tổng số tiền 200.000 đồng. Hiềng đứng ở ngoài đợi, còn N cầm tiền rồi dùng đèn pin điện thoại chiếu sáng một mình đi vào lán ruộng của Tẩn Tả M hỏi mua Heroine. Nguồn đưa cho M số tiền 200.000 đồng. M nhận tiền rồi lấy 04 gói Heroine, cấu mỗi gói một ít cho vào mảnh nilon màu xanh gói lại bán cho N. Mua bán xong Mẩy để số tiền bán Heroine trong túi vải đặt trên giường ngủ, còn 04 gói Heroine cất giấu ở vị trí cũ. Mua được H2, N quay lại gặp và đưa gói H2 cho H cầm. Hiềng cất giấu gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi cùng N đi về. Hồi 23 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, Lò Văn H3, Vàng Văn N đi về đến bản N, xã N, huyện P thì bị Công an Huyện P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thu giữ của H3 và Nguồn 01 gói Herione (do H3 tự giao nộp), thu giữ của Nguồn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8. Đồng thời vào hồi 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện P đến lán ruộng của Tẩn Tả M tại bản Chảng Phàng, xã S, huyện P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang M về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”, vật chứng thu giữ của M là 04 gói Heroine, số tiền 200.000 đồng, 01 túi nilon màu trắng đựng thân, rễ, củ cây khô, 01 túi vải (do M tự giao nộp). Ngay sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tẩn Tả M, quá trình khám xét không thu giữ gì.
Tại bản Kết luận giám định số 46/KLGĐ ngày 12/6/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Tả M có tổng khối lượng là 3,201 gam. Kết luận giám định số 738/KLGĐ ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 04 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 45/KLGĐ ngày 12/6/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lý Văn H, Vàng Văn N có khối lượng là 0,448 gam. Kết luận giám định số 737/KLGĐ ngày 13/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy loại; Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 739/KLGĐ ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 200.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Ngày 16/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Tấn Tả M nhận dạng người mua Heroine, Vàng Văn N nhận dạng người bán Heroine, kết quả: Mẩy nhận dạng Nguồn chính là người mua H2, Nguồn nhận dạng Mẩy chính là người bán Heroine. Ngày 20/8/2024, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tiến hành thực nghiệm điều tra cho Tẩn Tả M, Lý Văn H, Vàng Văn N diễn lại hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý, kết quả: Mẩy, H và N đã thực hiện lại hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra.
Bản Cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Tẩn Tả M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lý Văn H, Vàng Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 91/KLĐT ngày 09/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tẩn Tả M; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lý Văn H, Vàng Văn N; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; Áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H, bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử:
Xử phạt bị cáo Tẩn Tả M từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt các bị cáo Lý Văn H, Vàng Văn N từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 09 tháng tù đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và đề nghị áp dụng án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo đồng quan điểm về tội danh và các điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa.
Tại lời nói sau cùng các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:
Đêm ngày 11/6/2024, tại bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, Tẩn Tả M đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,448 gam cho Vàng Văn N lấy số tiền 200.000 đồng, đây là số tiền N và Lý Văn H góp nhau mỗi người 100.000 đồng để mua chung Heroine sử dụng. Mua được H2, H và N mang về đến bản Nậm Xe, xã N, huyện P thì bị Công an Huyện P bắt quả tang cùng vật chứng vào hồi 23 giờ cùng ngày. Đồng thời, vào hồi 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện P bắt quả tang Tẩn Tả M đang ở lán ruộng tại bản Chảng Phàng, xã S, huyện P, thu giữ của M 04 gói Heroine có khối lượng 3,201 gam tàng trữ để bán kiếm lời và số tiền 200.000 do bán Heroine mà có.
Tẩn Tả M phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng Heroine là: 3,201 + 0,448 = 3,649 gam. Lý Văn H, Vàng Văn N là đồng phạm giản đơn, cùng góp tiền mua được 0,448 gam Heroine để sử dụng, N là người trực tiếp đi mua Heroine, H là người cất giấu Heroine. Vì vậy Lý Văn H, Vàng Văn N cùng phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,448 gam Heroine. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo Tẩn Tả M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo Lý Văn H, Vàng Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo M nhận thức được việc mua bán trái phép và các bị cáo H, N đều nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo H, Nguồn nghiện ma túy, bị cáo M muốn có tiền tiêu sài nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo H, N phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo Tẩn Tả M không sử dụng ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có.
[4] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Lý Văn H, Vàng Văn N cùng góp tiền mua được 0,448 gam Heroine để sử dụng, N là người trực tiếp đi mua Heroine, H là người cất giấu Heroine. Vì vậy Lý Văn H, Vàng Văn N phải chịu trách nhiệm theo Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc biệt là nhân thân của các bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Hội đồng xét xử sẽ xem xét theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251; khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng các bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 3,201 gam Heroine thu giữ của Tẩn Tả M, Cơ quan điều tra đã trích 0,30 gam gửi giám định chất ma túy. Đối với 0,448 gam Heroine thu giữ của Lý Văn H, Vàng Văn N, Cơ quan điều tra đã trích 0,112 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 3,237 gam Heroine; 06 mảnh nilon màu xanh; 02 phong bì niêm phong đã mở; 01 túi nilon màu trắng đựng thân, rễ, củ cây khô; 01 túi vải là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 thu giữ của bị cáo N là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Số tiền 200.000 đồng thu giữ của Tẩn Tả M là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Những vấn đề liên quan: Về nguồn gốc ma túy, Tẩn Tả M khai mua của một người không rõ lai lịch. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
[9] Về án phí: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối vơi bị cáo Tẩn Tả M; điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn H, Vàng Văn N.
Căn cứ điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.
-
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Tả M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Tuyên bố các bị cáo Lý Văn H, Vàng Văn N đều phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
-
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn Tả M 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Lý Văn H 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
Xử phạt bị cáo Vàng Văn N 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
-
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 3,237 gam Heroine; 06 mảnh nilon màu xanh; 02 phong bì niêm phong đã mở; 01 túi nilon màu trắng đựng thân, rễ, củ cây khô; 01 túi vải. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) do bị cáo Tẩn Tả M phạm tội mà có; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 thu giữ của bị cáo Vàng Văn N.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ)
-
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
-
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tẩn Tả M cùng ĐP phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
