TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 20/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Thanh Liêm.
- Ông Lèo Văn Hưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Thành L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23 tháng 7 năm 1987 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1964; vợ Tòng Thị Thanh B, sinh năm 1992; có 03 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/6/2012, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 23 tháng 20 ngày về tội Cưỡng đoạt tài sản (đã xoá án tích).
Bị bắt từ ngày 10 tháng 7 năm 2024 đến nay. Có mặt.
2. Nguyễn Thanh T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 23 tháng 4 năm 1988 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Tổ dân phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La; tạm trú: Bản P, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không;
con ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Lê Thị K, sinh năm 1962; vợ Hoàng Thị H, sinh năm 1992; có 1 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 19 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích).
Bị bắt từ ngày 10 tháng 7 năm 2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 55 phút ngày 10/7/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La thì phát hiện bắt quả tang Phạm Thành L, Nguyễn Thanh T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu trắng bên trong là mặt giấy màu vàng có chứa 06 viên nén màu hồng (T1 và L cùng khai nhận các viên nén màu hồng đó là ma túy H1 phiến mua để sử dụng).
Quá trình điều tra các bị cáo Phạm Thành L, Nguyễn Thanh T1 khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 15 giờ ngày 10/7/2024, Phạm Thành L đi xe taxi đến nhà Nguyễn Thanh T1 tại bản P, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Khi đến nhà T1, qua nói chuyện T1 và L rủ nhau đi tìm mua ma túy để cùng sử dụng và thống nhất mỗi người góp 250.000 đồng để mua ma túy nhưng do T1 chưa có tiền nên L trả trước, khi nào T1 có tiền sẽ trả L sau. L đưa cho T1 500.000 đồng để mua ma túy. Sau đó, T1 và L cùng nhau đón xe taxi đến khu vực tổ F, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La. Xuống xe, L đứng chờ ở ven đường, còn T1 cầm tiền đi bộ đến hướng đường B tìm mua ma túy. Khi đến gần một ngõ dân sinh thuộc tổ F, phường T, thành phố S, T1 thấy một người nam giới không quen biết đứng ở trong ngõ nên T1 lại gần hỏi mua ma túy. Qua trao đổi, T1 mua được của người nam giới đó một gói giấy màu trắng mở ra bên trong là mặt giấy màu vàng có chứa 06 viên nén màu hồng với số tiền 500.000 đồng. T1 cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ hướng về phía L đang đứng chờ. Khi vừa đến gần chỗ L thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an thành phố S phát hiện phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định vật chứng thu giữ của Phạm Thành L và Nguyễn Thanh T1, kết quả: 06 viên nén màu hồng đồng dạng trong gói mảnh giấy có một mặt màu vàng, thu giữ khi bắt quả tang có tổng khối lượng là 0,60 gam, lấy 03 viên nén màu hồng đồng dạng có khối lượng 0,30 gam cho vào túi nilon màu trắng làm mẫu gửi giám định (ký hiệu G). Còn lại 03 viên nén màu hồng đồng dạng có khối lượng 0,30 gam cho vào túi nilon màu trắng làm mẫu lưu kho (ký hiệu L).
Kết luận giám định số 1460/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu ký hiệu G gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,60 gam; loại Methamphetamine!"
Về nguồn gốc 0,60 gam Methamphetamine, bị cáo Nguyễn Thanh T1 khai mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 10/7/2024 tại khu vực tổ F, phường T, thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ để mở rộng điều tra, xác minh.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 497/CT-VKSTP ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Phạm Thành L, Nguyễn Thanh T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành L, Nguyễn Thanh T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Xử phạt bị cáo Phạm Thành L từ 14 đến 18 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 từ 14 đến 18 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,30 gam Methamphetamine ký hiệu L; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi các bị cáo Phạm Thành L, Nguyễn Thanh T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 10/7/2024, Phạm Thành L và Nguyễn Thanh T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,60 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang khu vực tổ F, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,60 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định; Kết luận giám định; Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phạm Thành L và Nguyễn Thanh T1 đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo Phạm Thành L và Nguyễn Thanh T1 thực hiện phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, phân nhiệm, bàn bạc với nhau từ trước. Trong đó, bị cáo L là người khởi sướng, cho bị cáo T1 vay tiền để mua ma túy; bị cáo T1 là người trực tiếp đi mua ma túy. Do đó, các bị cáo phải chịu mức hình phạt ngang nhau.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn ăn năn hối cải; bị cáo Phạm Thành L có bố đẻ là ông Phạm Văn T được Chủ tịch nước thưởng Huân chương chiến công hạng ba; bị cáo Nguyễn Thanh T1 có ông ngoại là ông Lê Hữu T3 được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Thanh T1 Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
[8] Vật chứng vụ án: Đối với 0,30 gam Methamphetamine có ký hiệu L còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng là vật bị cáo dùng để cất giấu ma túy, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ, theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Về án phí: Do hành vi phạm tội của các bị cáo nên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thành L và Nguyễn Thanh T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Phạm Thành L 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2024.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,30 gam Methamphetamine có ký hiệu L; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng.
(Số lượng, khối lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc các bị cáo Phạm Thành L và Nguyễn Thanh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo Phạm Thành L và Nguyễn Thanh T1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/11/2024).
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Phượng |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn L + ĐP phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
