Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HSST

Ngày: 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến

Bà Phan Thị Nhụ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ- tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Văn Th, sinh năm: 1994;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn H, xã K, huyện B, tỉnh Thanh Hoá; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Hà Văn Ngh và bà Lục Thị T; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hà Thị D, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Tại bản án 05/2021/HSST ngày 04/3/2021 của Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá xử phạt Hà Văn Th 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điều 249 Bộ luật hình sự. Hà Văn Th chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/10/2022.

Tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Ninh.

* Bị hại: Anh Lương Văn Q, sinh năm 1992. Vắng mặt.

HKTT: Thôn B, xã K, huyện B, tỉnh Thanh Hoá.

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Kim Sơn, sinh năm 1993 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn Th và Lương Văn Q là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Sáng ngày 09/8/2024, Th đến khu trọ của Anh Q tại khu phố Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh chơi. Khi đến nơi, Th thấy Anh Q đang ở phòng cùng Lương Văn S, sinh năm 1994 (là người ở cùng thôn với Anh Q) đang ngồi chơi ở phòng trọ nên Th xin Anh Q cho tắm nhờ, Anh Q đồng ý. Khi Th tắm xong thấy anh S đã về nên đi ra giường nằm với Anh Q xem phim. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày Th thấy Anh Q ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Th quan sát phòng trọ của thấy Anh Q để 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR X9B ở đầu giường nên Th lấy đút vào túi quần đang mặc. Sau đó, Th mở ví của Anh Q để trên bệ cửa sổ lấy 400.000 đồng và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS 36G5-195.59 mang tên Anh Q. Sau đó, Th lấy một chùm chìa khóa xe mô tô BKS 36G5-195.59 để trên bàn của Anh Q và xuống tầng 01 của khu trọ đi đến ngồi lên xe mô tô Yamaha Sirius BKS 36G5-195.59 mở khóa điện và mở cổng khu trọ dắt xe mô tô ra đường rồi điều khiển đi tìm các cửa hàng cầm đồ để bán số tài sản vừa trộm cắp được nhưng không có cửa hàng nào mua tài sản. Số tiền 400.000 đồng Th đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 10/8/2024, khi bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ triệu tập Th đã ra cơ quan Công an đầu thú và tự nguyện giao nộp các tài sản đã trộm cắp như đã nêu ở trên.

Trên cơ sở yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ. Tại kết luận định giá số 40/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Quế Võ kết luận:

“01 (một) điện thoại di động mang nhãn hiệu HONOR X9B màu đen đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 8/2024 có giá là 500.000 đồng.

01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh đen, BKS 36G-195.59 đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 8/2024 có giá là 8.000.000 đồng.

Tổng tài sản định giá là 8.500.000 đồng."

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 166/CT-VKSQV ngày 24/10/2024 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Hà Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố Hà Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS: Xử phạt Hà Văn Th từ 16 tháng đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
  • Xử lý vật chứng: Đối với 01 chìa khoá xe mô tô; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS: 36G5-195.59; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS: 36G5-195.59 mang tên Lương Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR X9B là của Anh Q nên ngày 05/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại các tài sản trên cho Anh Q, Anh Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên đề nghị không xem xét giải quyết.
  • Trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 400.000 đồng Th trộm cắp của Anh Q, Th đã tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra, Anh Q không yêu cầu Th phải bồi thường nên đề nghị không xem xét, giải quyết
  • Về án phí: Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKSND thị xã Quế Võ mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Văn Th tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu giữ, lời khai của bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được:

Ngày 09/8/2024, tại phòng trọ của Anh Lương Văn Q tại khu phố Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Hà Văn Th có hành vi trộm cắp định 01 chìa khoá xe mô tô; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS: 36G5-195.59 mang tên Lương Văn Q; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS: 36G5-195.59 trị giá 8.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HONOR X9B trị giá 500.000 đồng và số tiền 400.000 đồng của Lương Văn Q. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 8.900.000 đồng. Do đó, hành vi của Th đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Năm 2021, bị cáo Th bị Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá xử phạt Hà Văn Th 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/10/2022, đến nay chưa được xóa án tích nên cần xác định lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Th thành khẩn khai báo, khai nhận hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã tới cơ quan Công an để đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó là bài học kinh nghiệm cho bản thân, tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo là đối tượng rất khó để giáo dục, cải tạo. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly Th khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do Th là đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên khó thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về vật chứng:

Đối với 01 chìa khoá xe mô tô; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS: 36G5-195.59; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS: 36G5-195.59 mang tên Lương Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR X9B là của Anh Q nên ngày 05/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại các tài sản trên cho Anh Q, Anh Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Q đã nhận lại các tài sản nêu trên và không có yêu cầu bồi thường. Đối với số tiền 400.000 đồng Th trộm cắp của Anh Q, Th đã tiêu xài cá nhân hết, Anh Q cũng không yêu cầu Th phải bồi thường. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

    Xử phạt Hà Văn Th 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2024.

    Quyết định tạm giam bị cáo Hà Văn Th 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

  3. Về án phí: Bị cáo Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND, Công an, Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Xuân Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 14/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Th-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger