|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày 06/11/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Thanh Bắc.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Tình;
2. Bà Mai Thị Hoài Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn P, sinh ngày 19/9/1984 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lù Văn G (Đã chết) và bà Lù Thị D, sinh năm 1943; Vợ, con: Chưa có. Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ hồi 09 giờ 35 phút 14/7/2024 đến ngày 23/7/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ, ngày 13/7/2024, Lù Văn P, sinh năm 1984 đi bộ từ nhà tại bản N, xã M, huyện T lên xã K, huyện T mục đích tìm mua H để sử dụng. Khi đến xã K, (Po không rõ thuộc bản nào) P gặp và hỏi mua được 01 gói Heroin được gói bằng một mảnh nilon màu xanh của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được H, P cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi về đến nhà P vẫn để gói H trong túi quần. Đến khoảng 00 giờ ngày 14/7/2024 P mang theo gói Heroin trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ ra một lán bỏ hoang cạnh đường ở bản N, xã M, huyện T để sử dụng Heroin. Đến 00 giờ 35 phút ngày 14/7/2024 khi P vừa vào đến lán thì bị công an xã M, huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của P 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh nilon màu xanh, có khối lượng 0,63 gam, mục đích để sử dụng.
Ngày 14/7/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 71/KL-TCGĐ ngày 14/7/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lù Văn P có khối lượng là 0,63 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích 0,09 gam trong tổng số 0,63 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lù Văn P theo P khai nhận là H gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 939/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy.
Bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-TU, ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lù Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lù Văn P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư của Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 0,54 gam Heroin; 01 mảnh nilon màu xanh.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn G1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 00 giờ 35 phút, ngày 14/7/2024, tại bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lù Văn P đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin được gói bằng một mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,63 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã M, huyện T phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lù Văn P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lù Văn P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm lao động tự do, nguồn thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) bì thư của Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 0,54 gam Heroin; 01 mảnh nilon màu xanh. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc 0,63 gam Heroin, Lù Văn P khai do P mua của một người đàn ông dân tộc mông không rõ lai lịch tại xã K, huyện T. Quá trình điều tra, không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 08 (T) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2024.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư của Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 0,54 gam Heroin; 01 mảnh nilon màu xanh.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 10 phút ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên)
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thanh Bắc |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 01 năm 08 tháng tù
