|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày 25- 9- 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Hoàng Văn Lược
- 2. Ông Nguyễn Quốc Sáu
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Lan, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Quách Thị V, sinh năm 1997
Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
Bị đơn: anh Phan Văn Q, sinh năm 1996
Nơi ĐKNKTT: tổ E, khu phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện nay: SN 168, đường N, Khu phố A, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại bản tự khai, tự khai bổ sung và trong quá trình xét xử, nguyên đơn - chị Quách Thị V trình bày:
Về hôn nhân: chị Quách Thị V và anh Phan Văn Q kết hôn với nhau từ năm 2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Trước khi kết hôn hai bên tự nguyện tìm hiểu nhau, thời gian là 2 năm. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q ham chơi, không quan tâm đến vợ, con. Thêm vào đó, anh Q thường xuyên đi chơi qua đêm và bạo hành vợ nhiều lần, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày với vợ rất khó nghe và thiếu sự tôn trọng. Tình trạng này kéo dài đã nhiều năm mà không khắc phục được. Bản thân chị V đã rất cố gắng, kiên trì khuyên giải chồng thay đổi tâm tính để vợ chồng chung sống hòa thuận, nhưng anh Q không có sự chuyển biến nào. Cuộc sống gia đình vì thế rất mệt mỏi, căng thẳng. Chị V luôn sống trong tâm trạng nơm nớp lo sợ những lời chửi mắng, xúc phạm và những trận đòn vô cớ của chồng mỗi khi chồng say rượu. Hiện tại chị V và anh Q đang sống ly thân nhau. Nay chị V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Văn Q.
Về phần con chung: vợ chồng chị V, anh Q có 1 con chung là Phan Khương D (nam), sinh 21/7/2019. Khi ly hôn, chị V xin nuôi con và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/1 tháng.
Về tài sản: chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 19 tháng 8 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Phan Văn Q trình bày:
Về hôn nhân: anh Q thừa nhận về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị Quách Thị V trình bày là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng, anh Q cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 1/2024, nguyên nhân do hai bên chưa thực sự hiểu nhau nên không có sự cảm thông, chia sẻ, mà cố chấp, dẫn đến chuyện bé xé ra to. Mỗi lần giận dỗi là chị V bỏ đi một thời gian rồi quay về, anh cũng không biết đi đâu. Việc vợ chồng anh mâu thuẫn, đã được nội, ngoại đôi bên hòa giải nhưng chị V vẫn cương quyết làm đơn ly hôn với anh. Anh xét thấy chị V đã cương quyết ly hôn, chứng tỏ không còn tình cảm với mình nên nhất trí ly hôn.
Về phần con chung: vợ chồng anh có 1 con chung là Phan Khương D như chị V trình bày. Anh Q không đồng ý giao cháu D cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng với vì điều kiện về mọi mặt của anh hiện nay tốt hơn chị V, thu nhập của anh mỗi tháng 16.000.000đ (chưa kể làm thêm). Anh Q xin nuôi cháu D và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.
Về phần tài sản: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Kết quả hai lần hòa giải, về hôn nhân, chị Quách Thị V và anh Phan Văn Q thuận tình ly hôn; về phần con chung: hai bên không thống nhất được việc nuôi con, cả hai cùng có nguyện vọng muốn nuôi con; về tài sản: hai bên thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 10/9/2024, chị V có bản tự khai bổ sung, trình bày quan điểm, chị V không đồng ý giao con cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng vì anh Q chơi bời và có sử dụng ma túy, nhiều lần đưa bạn bè về chỗ ở để tụ tập cùng nhau sử dụng ma túy, nên chị không yên tâm khi giao con cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự,
Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: đề nghị xử cho chị Quách Thị V được ly hôn anh Phan Văn Q; về nuôi con chung: đề nghị giao cháu Phan Khương D (nam), sinh 21/7/2019 cho chị Quách Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh Phan Văn Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ; về án phí: đề nghị HĐXX buộc nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Quách Thị V khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và xin nuôi con khi ly hôn, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn, anh Phan Văn Q có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại khu phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn.
[2] Về nội dung vụ án:
1/ Về hôn nhân: hôn nhân của chị Quách Thị V và anh Phan Văn Q là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong cuộc sống, hai bên bất đồng quan điểm, không có sự yêu thương, chia sẻ khó khăn với nhau, thậm chí đã có việc bạo hành trong gia đình. Vợ chồng chị V, anh Q đã sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần, động viên vợ, chồng bỏ qua khuyết điểm cho nhau để quay về đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con trưởng thành, nhưng chị V cương quyết ly hôn và anh Q cũng nhất trí.
Tòa án cũng đã tiến hành xác minh, tìm hiểu tại nơi cư trú của anh Q và chị V về trình trạng hôn nhân và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Kết quả cho thấy việc vợ chồng mâu thuẫn và hiện đang sống ly thân là thực tế.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V, xử cho chị V được ly hôn anh Q là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
2/ Về nuôi con chung: chị V và anh Q có 1 con chung, cả anh Q và chị V đều có nguyện vọng muốn nuôi con. Chị V đã cung cấp các tài liệu là Hợp đồng lao động số 354/SAB-HĐLĐ ngày 25/4/2024 và Phụ lục hợp đồng số 354/SAB-PLHĐLĐ của Công ty TNHH C (Việt Nam) với mức lương cơ bản là 4.750.000đ. Đồng thời chị V nộp phiếu lương 3 tháng (6, 7, 8/2024) với mức lương thực lãnh bình quân trên 7.000.000đ/1 tháng (có sao kê chi tiết giao dịch chuyển tiền lương tại ngân hàng V1).
Ngoài ra, chị V có đơn xin xác nhận của UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa với nội dung “do vợ chồng mâu thuẫn gay gắt, tôi có về nhà bố mẹ đẻ của tôi là ông Quách Văn D1 (sinh năm 1973), bà Bùi Thị L (sinh năm 1974) sinh sống tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Bố mẹ tôi hiện nay không sống cùng với người con/cháu nào, ông bà có lương, nhà cửa xây kiên cố, rộng rãi (nhà hai tầng, bề ngang 7m, chiều dài 40-50m). Nhà có 1 phòng khách, 5, phòng ngủ, đảm bảo cho 10-15 người sinh sống, sinh hoạt thoải mái. Bố tôi hiện nay vẫn đi làm thợ xây, mẹ tôi trồng trọt, chăn nuôi, cả hai ông bà đều có thu nhập. Tôi và con trai Phan Khương D về sống cùng ông bà sẽ có đầy đủ điều kiện ăn ở, sinh hoạt thoải mái. Ông bà còn khỏa mạnh, nhanh nhẹn, có thể hỗ trợ tôi chăm cháu và đưa đón cháu đi học khi tôi đi làm”.
Anh Q cung cấp cho Tòa án Đơn xin xác nhận công tác của Công ty TNHH D2 với mức lương là 16.00.000đ/tháng (nhưng không có sao kê chi tiết giao dịch chuyển tiền lương tại ngân hàng). Như vậy, chị V và anh Q đều có công việc, có thu nhập và có chỗ ở ổn định, đều có điều kiện để nuôi con.
HĐXX xét thấy, nguyện vọng muốn được nuôi con của các bên là chính đáng. Tuy nhiên, anh Q muốn nuôi con nhưng qua xác minh ở tổ dân phố cho thấy, anh Q ít khi có mặt có mặt ở địa phương, cháu D chủ yếu sống cùng bà nội của cháu là Lê Thị H (mẹ anh Q). Tính đến ngày xét xử, cháu D mới được hơn 5 tuổi, còn nhỏ và rất cần bàn tay chăm sóc của người mẹ. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất về mọi mặt, để cháu D phát triển tốt cả thể chất, tinh thần, trí tuệ và tâm hồn, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Phan Khương D cho chị Quách Thị V trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quách Thị V yêu cầu bị đơn là anh Phan Văn Q phải cấp dưỡng nuôi con hằng tháng là 3.000.000đ. Tại phiên toà, chị V chỉ yêu cầu anh Q cấp dưỡng với mức 2.000.000đ/1 tháng.
HĐXX xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con hằng tháng của người không trực tiếp nuôi con cho người trực tiếp nuôi con là cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào độ tuổi của cháu, mức thu nhập của chị V và anh Q, HĐXX xét thấy, mức cấp dưỡng 2.000.000đ/1 tháng là phù hợp nên cần chấp nhận yêu cầu về cấp dưỡng của chị V.
Về phần tài sản: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
[3] Về án phí: chị Quách Thị V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm, anh Phan Văn Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình;
- - Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí ban hành kèm theo;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị V về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Phan Văn Q.
1. Về hôn nhân: xử cho chị Quách Thị V được ly hôn anh Phan Văn Q.
2. Về nuôi con chung: giao cháu Phan Khương D (nam), sinh 21/7/2019 cho chị Quách Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh Phan Văn Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ (hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (25/9/2024) cho đến khi cháu D đủ tuổi thành niên (18 tuổi) và có khả năng lao động.
Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Tuy nhiên, nếu anh Q lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của chị V thì người trực tiếp nuôi con là chị V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con đối với anh Q theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên đương sự được quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: chị Quách Thị V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000đ chị V đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn theo biên lai thu số: 0004616 ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn sang phần án phí mà chị V phải nộp theo quy định của pháp luật. Như vậy chị V đã thi hành xong khoản án phí ly hôn sơ thẩm.
Buộc anh Phan Văn Q phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/9/2024).
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - VKSND thị xã Bỉm Sơn;
- - TAND tỉnh Thanh Hoá;
- - UBND xã Thành Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá (đk số 59/2018);
- - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Sang |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Thị V và Phan Văn Quân tranh chấp về ly hôn, nuôi con
