|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 14/2024/KDTM-ST Ngày: 31/7/2024. V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hùng Minh Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Trường.
Ông Trương Hoàng Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 43/2023/TLST- KDTM ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST - KDTM ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H (H1).
Trụ sở: số B N, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Nhật H, sinh năm: 1994.
Địa liên lạc: số C P, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Văn bản uỷ quyền ngày 22/5/2024.
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị T1, sinh năm: 2001.
Địa chỉ: tổ F, ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
( Ông H có mặt, bà T1 vắng mặt tại phiên tòa )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 8 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật H trình bày:
Giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H (Viết tắc H1) và bà Đoàn Thị T1, ký kết các hợp đồng tín dụng gồm:
Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25581/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25581/21MN/HĐTD/KUNN02 ngày 16/6/2021 vay số tiền 1.000.000.000đồng (một tỷ), lãi suất 13.8%/năm, thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn 16/6/2023.
Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25582/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25582/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 22/6/2021 vay số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu), lãi suất 13.5%/năm, thời hạn vay 240 tháng, ngày đến hạn 24/6/2041. Tổng số tiền bà T1 đã vay 1.500.000.000đồng (một tỷ năm trăm triệu). Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh + vay sửa chữa nhà để ở.
Tài sản thế chấp đảm bảo thanh toán nợ là quyền sử dụng đất thửa đất số 145, tờ bản dồ số 39 tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 906421 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/8/2020, cập nhật thông tin chủ sở hữu ngày 10/6/2021, ghi tên người quản lý, sử dụng bà Đoàn Thị T1.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đoàn Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh kể từ ngày 25/4/2023. H1 đã nhiều lần tạo điều kiện để bà T1 thanh toán nợ nhưng bà T1 vẫn không thanh toán.
Do đó, H1 khởi kiện yêu cầu bà T1 phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 31/7/2024 là 1.819.091.308 (một tỷ tám trăm mười chín triệu không trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm lẽ tám đồng).
Trong đó, nợ gốc là 1.461.229.205 đồng (một tỷ bốn trắm sáu mươi mốt triệu hai trăm hai mươi chín nghìn hai trăm lẽ năm đồng), nợ lãi trong hạn là 111.317.399đồng (một trăm mười một triệu ba trăm mười bảy đồng ba trăm chín mươi chín nghìn) và nợ lãi quá hạn là 246.544.604đồng (hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm lẽ bốn đồng).
Lãi suất phát sinh kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi bà Đoàn Thị T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với H1.
Tại bản tự khai ngày 20/3/2024, bị đơn bà Đoàn Thị T1 có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau.
Năm 2021, bà có vay của ngân hàng H1 số tiền tổng cộng là 1.500.000.000đồng (một tỷ năm trăm triệu), bà là người đứng ra vay dùm cho ông Lê Bá Đ, sinh năm 1991 và bà Vũ Thị Minh T2, sinh năm 2001. Địa chỉ: tổ F, ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Vay để ông Đ và bà T2 kinh doanh, việc vay tiền chia làm hai đợt, đợt 1 ngày 16/6/2021 vay số tiền 1.000.000.000đồng (một tỷ), thời hạn vay 12 tháng. Đợt 2 ngày 22/6/2021, vay số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng), thời hạn vay 240 tháng. Về lãi theo hồ sơ vay bà đã ký kết với ngân hàng H1.
Quá trình vay, bà có thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất 145, tờ bản đồ số 19 xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai thuộc sở hữu của bà.
Do vay dùm ông Đ và bà T2, bà không biết việc thanh toán nợ ngân hàng như thế nào, bà không liên quan đến khoảng vay này.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ được thực hiện đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được bảo đảm, các quyết định được tống đạt hợp lệ, phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấp hành tốt pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25581/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25581/21MN/HĐTD/KUNN02 ngày 16/6/2021 vay số tiền 1.000.000.000đồng (một tỷ), lãi suất 13.8%/năm, thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn 16/6/2023. Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25582/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25582/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 22/6/2021 vay số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu), lãi suất 13.5%/năm, thời hạn vay 240 tháng, ngày đến hạn 24/6/2041. Tổng số tiền bà T1 đã vay 1.500.000.000đồng (một tỷ năm trăm triệu). Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh + vay sửa chữa nhà để ở. Bà T1 thừa nhận là đã có ký kết hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ nói trên với Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H. Việc bà T1 cho rằng vay dùm cho ông Lê Bá Đ và bà Vũ Thị Minh T2 nhưng bà T1 không có chứng cứ, chứng minh gì thể hiện bà T1 đã vay dùm cho ông Đ và bà T2. Trong quan hệ giao dịch giữa bà T1 và Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H chỉ duy nhất do bà T1 thực hiện. Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H chỉ yêu cầu bà T1 thanh toán số nợ vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà T1 phải thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H theo yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H với bà Đoàn Thị T1 là tranh chấp hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp về Kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 20/3/2024, bị đơn bà Đoàn Thị T1 có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà T1. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hàng xét xử vắng mặt bà T1.
[3]. Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25581/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25581/21MN/HĐTD/KUNN02 ngày 16/6/2021 vay số tiền 1.000.000.000đồng (một tỷ), lãi suất 13.8%/năm, thời hạn vay 12 tháng, ngày đến hạn 16/6/2023. Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25582/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25582/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 22/6/2021 vay số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu), lãi suất 13.5%/năm, thời hạn vay 240 tháng, ngày đến hạn 24/6/2041 đã được ký kết giữa Ngân hàng H1 với bà Đoàn Thị T1. Tổng số tiền bà T1 đã vay 1.500.000.000đồng (một tỷ năm trăm triệu). Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh + vay sửa chữa nhà để ở.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đoàn Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh từ ngày 25/4/2023.
Tạm tính đến ngày 31/7/2024, bà Đoàn Thị T1 còn nợ Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H là 1.819.091.308 (một tỷ tám trăm mười chín triệu không trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm lẽ tám đồng).
Trong đó, nợ gốc là 1.461.229.205 đồng (một tỷ bốn trắm sáu mươi mốt triệu hai trăm hai mươi chín nghìn hai trăm lẽ năm đồng), nợ lãi trong hạn là 111.317.399đồng (một trăm mười một triệu ba trăm mười bảy đồng ba trăm chín mươi chín nghìn) và nợ lãi quá hạn là 246.544.604đồng (hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm lẽ bốn đồng).
Bị đơn bà Đoàn Thị T1 thừa nhận đã ký kết các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng H1, vay 02 lần tổng cộng số tiền 1.500.000.000đồng. Lãi suất theo hợp đồng vay đã ký kết. Bà T1 cho rằng, bà vay dùm cho ông Lê Bá Đ và bà Vũ Thị Minh T2. Bà chỉ vay dùm cho ông Đ và bà T2, bà không liên quan gì trong vụ án. Tuy nhiên, tất cả các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ bà T1 là người ký kết với ngân hàng H1. Bà T1 thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 145, tờ bản dồ số 39 tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 906421 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/8/2020, cập nhật thông tin chủ sở hữu ngày 10/6/2021, ghi tên người quản lý, sử dụng bà Đoàn Thị T1 để đảm bảo thanh toán nợ. Trong quá trình ký kết hợp đồng tín dụng, kế ước nhận nợ và sử dụng tài sản thế chấp đảm bảo thanh toán nợ đều chỉ do bà T1 thực hiện ký kết với Ngân hàng H1. Trong vụ án này, ông Đ và bà T2 không ký kết bất kỳ thỏa thuận nào với Ngân hàng H2, bà T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc bà T1 là người vay tiền giúp cho ông Đ và bà T2. Do đó, bà T1 phải có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng H1 theo nội dung thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng mà bà T1 đã ký kết với Ngân hàng H1.
Từ những phân tích như đã nêu trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng H1 buộc bà Đoàn Thị Thùy t số nợ tính đến ngày 31/7/2024 là số tiền 1.819.091.308 (một tỷ tám trăm mười chín triệu không trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm lẽ tám đồng). Lãi suất phát sinh kể từ ngày 01/8/2024 cho đến khi bà Đoàn Thị T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Q là có cơ sở chấp nhận.
Tài sản thế chấp đảm bảo thanh toán nợ quyền sử dụng đất thửa đất số 145, tờ bản dồ số 39 tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 906421 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/8/2020, cập nhật thông tin chủ sở hữu ngày 10/6/2021, ghi tên người quản lý, sử dụng bà Đoàn Thị T1 để đảm bảo thanh toán nợ. Đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ ngày 18/6/2021.
[4]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5]. Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí tố tụng: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng H1 về việc buộc bà T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng H1, nên áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bà T1 phải chịu 66.570.500đồng (sáu mươi sáu triệu năm trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng) đã làm tròn, tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000đồng (hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 463; Điều 466; Điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H. Buộc bà Đoàn Thị T1 phải trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H số tiền 1.819.091.308 (một tỷ tám trăm mười chín triệu không trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm lẽ tám đồng).
Trong đó, nợ gốc là 1.461.229.205 đồng (một tỷ bốn trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm hai mươi chín nghìn hai trăm lẽ năm đồng), nợ lãi trong hạn là 111.317.399đồng (một trăm mười một triệu ba trăm mười bảy đồng ba trăm chín mươi chín nghìn) và nợ lãi quá hạn là 246.544.604đồng (hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm lẽ bốn đồng).
- Kể từ ngày 01/8/2024, bà Đoàn Thị T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25581/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25581/21MN/HĐTD/KUNN02 ngày 16/6/2021 và Hợp đồng tín dụng hạn mức số 25582/21MN/HĐTD ngày 17/6/2021, khế ước nhận nợ số 25582/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 22/6/2021 cho đến khi thi hành án xong các khoản nợ phải thanh toán.
- Tài sản thế chấp đảm bảo thanh toán nợ: Quyền sử dụng đất thửa đất số 145, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 906421 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/8/2020, cập nhật thông tin chủ sở hữu ngày 10/6/2021, ghi tên người quản lý, sử dụng bà Đoàn Thị T1
Về án phí: Bà Đoàn Thị T1 phải chịu 66.570.500đồng (sáu mươi sáu triệu năm trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng, đã làm tròn) tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 29.226.000đồng (Hai mươi chín triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0002349 ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà T1 phải chịu 2.000.000đồng (hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H đã tạm ứng trước. Buộc bà Đoàn Thị T1 phải thanh toán lại cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát Triển Thành phố H số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng).
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Đồng Nai.THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - VKSND huyện Long Thành. - THADS huyện Long Thành. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. |
Hùng Minh Sang |
Bản án số 14/2024/KDTM-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 14/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
