|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày 13- 6- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bàng.
Ông Hà Minh Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đó - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn P, sinh ngày 16/4/1998; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;
Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang;
Nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hoá 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1972
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/01/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ, ngày 26/01/2024, Cơ quan Công an
huyện A phối hợp với Công an xã H kiểm tra lưu trú tại nhà T thuộc ấp X, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Khi kiểm tra phòng trọ số 02 nhà trọ Bích Vân do Huỳnh Văn P thuê thì lực lượng chức năng phát hiện Huỳnh Văn P có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra người. Lúc này Huỳnh Văn P tự nguyện giao nộp 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín có kích thước khoảng 1,3cm x 03cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là chất ma tuý nên tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định. Trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Vào khoảng 18 giờ, ngày 26/01/2024, P đến nhà người quen thuộc khu vực Cảng cá T thuộc ấp M, xã B, huyện C chơi nên được nghe nói là khu vực chân cầu C thuộc ấp B, xã B, huyện C có người phụ nữ khoảng 30 tuổi, tóc ngắn có bán ma tuý. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên P thuê xe ôm đi đến chân cầu C thược ấp B, xã B, huyện C để tìm mua ma tuý đá. Khi đến châu cầu C P xuống xe đi bộ khoảng 300m thì gặp người phụ nữ (không rõ tên, địa chỉ) có đặc điểm giống như được nghe nói. P đến gặp và hỏi mua ma tuý với số tiền 300.000 đồng thì người phụ nữ đồng ý bán cho P 01 bịch nylon được hàn kính có chứa ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, P cất giấy vào túi quyền phía sau bên phải đang mặc trên người rồi đi đến chỗ xe ôm đang đợi và yêu cầu chở về nhà trọ B thuộc ấp X, xã H tại đây Phi thuê phòng trọ số 02 để nghỉ, đến 22 giờ cùng ngày bị Công an kiểm tra bắt quả kiểm tra hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên tiến hành thu giữ tang vật theo quy định.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín có kích thước khoảng 1,3cm x 03cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là chất ma tuý.
Tại Kết luận giám định số 102/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất bên trong chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1230 gam.
(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại Bản Cáo trạng số 07/CT-VKSHAB ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo
Huỳnh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Huỳnh Văn P từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy chất ma tuý còn lại theo quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa thể hiện: Do muốn có ma túy để sử dụng nên vào khoảng 18 giờ, ngày 26/01/2024, bị cáo thuê xe ôm đi đến chân cầu C thuộc ấp B, huyện C để tìm mua 01 bịch nylon ma tuý của người phụ nữ với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, bị cáo đi xem ôm đến thuê phòng trọ số 02 nhà T thuộc ấp X, xã đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị Công an đến kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ tang vật theo quy định. Theo kết luận giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,1230 gam. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Huỳnh Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự, ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm mà không suy nghĩ đến hậu quả, mua ma túy về tàng trữ để sử
dụng. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền tác hại ma túy, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Huỳnh Văn P không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở sẽ tiến hành xử lý sau.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 0,0904 gam đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 79/2024, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T người chứng kiến Đàm Hoàng D và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K
[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Văn P phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P, 01 (Một) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 27/01/2024.
-
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng 0,0904 gam đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ 79/2024, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T người chứng kiến Đàm Hoàng D và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ/VKSHAB ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang)
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trần Mộng Thúy |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
