TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày: 28 - 5 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hóa và ông Lê Hồng Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 189/2024/HS-ST ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn B, tên gọi khác: Vồng, giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 7 năm 1990 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh T và bà Ngô Thị H; Vợ con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 03 tiền án: Ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương theo Bản án số 45/HSST ngày 29/12/2017; Ngày 23/05/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 15 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản theo Bản án số 13/HSST ngày 23/05/2019; Ngày 22/09/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản theo Bản án số 36/HSST ngày 22/09/2020.
Nhân thân:
Ngày 03/07/2017 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phòng PC47 Công an tỉnh T xử phạt hành chính 750.000 đồng.
Bị cáo Huỳnh Văn B bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/10/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện P. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Hồng M - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: Số I T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Ông Ngô Đức T1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Đặng Ngọc T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: TDP T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Bà Ngô Thị C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số B, kiệt G, thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Ông Ngô Đức T3, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 15/09/2023, Huỳnh Văn B điều khiển xe mô tô BKS: 75H1- 181.04 đi từ Huế về xã P để uống cà phê. Khi đến quán cà phê của anh Ngô Đức H1 ở tại thôn A, xã P, huyện P thì thấy anh Ngô Đức T1 (Sinh năm: 1980, ở tại thôn A, xã P, huyện P) đang ngồi uống cà phê, do B có thù tức anh T1 trước đó nên Huỳnh Văn B đã chạy đi lên khu lăng mộ ở thôn A lấy một cái bao (loại bao xác rắn 10 kg) bên trong có đựng 01 cái rựa và 05 vỏ chai bia Huda loại 500ml mà B đã dấu từ trước đó đem đến quán cà phê. Khi đến trước quán B đã lấy một cái rựa từ trong bao ra cầm ở tay và đi bộ vào quán để tìm anh T1, thấy vậy anh T1 chạy ra cổng sau quán. B nhìn thấy liền chạy đuổi theo để chém anh T1, anh T1 thấy B đuổi theo thì bỏ chạy vào kiệt 4, thôn A, xã P. Trong lúc bỏ chạy, anh T1 bị trượt ngã nên B đuổi kịp và chém vào người anh T1, anh T1 dùng tay chống đỡ rồi chạy vào nhà ông Nguyễn Thanh C1 lấy cái ghế kim loại để đỡ, lúc này có bà Ngô Thị C là dì ruột của B đến ôm B lại can ngăn nên B không chém nữa và bỏ đi ra đường kiệt 4, anh T1 lấy một cái xẻng ở góc sân nhà ông C1 rượt đuổi theo đánh B, B dùng rựa để đỡ làm cái xẻng bị gãy và phần lưỡi rơi xuống đường, anh T1 vứt phần cán xẻng xuống và lao vào dùng hai tay túm lấy tóc của B và ghì đầu B cụng vào bờ tường thành nhà thờ họ Ngô. Lúc này có Đặng Ngọc T2 (Sinh năm 1994, trú tại phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế là bạn của B) đi đến nhìn thấy B đang bị đánh nên đi đến nhặt cán xẻng lên và đánh vào anh T1 một cái thì B can ngăn nên T2 bỏ đi.
Sau đó bà C tiếp tục chạy đến can ngăn nên anh T1 xô B ngã ra và bỏ đi về. Sau đó mọi người đưa anh T1 đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện T4 còn B có dấu hiệu không bình thường nên được người nhà đưa đi bệnh viện tâm thần khu vực M tỉnh Thừa Thiên Huế để chữa trị. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện P, Huỳnh Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số: 426-23/KLTTCT-GĐPY, ngày 20/09/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Đức T1 tại thời điểm giám định là: 14%
- Vật gây, cơ chế hình thành dấu vết:
- Vết thương vùng lưng trái do vật sắc tác động.
- Vết thương vùng lưng phải do tác động tương hỗ với vật tày có cạnh theo hướng từ trên xuống dưới.
- Gãy xương quay phải chưa khảo sát chưa đánh giá vật gây thương tích.
- Vết thương rách da mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái do vật sắc tác động theo kiểu sượt qua hướng từ khuỷu đến bàn tay.
- Vết xây xát da nỗng mặt sau trong về phía trụ 1/3 dưới cẳng tay trái do vật tày tác động theo phương nằm ngang.
- Các tổn thương hai gối, 1/3 giữa cẳng chân trái, mu bàn ngón và ngón 1 chân phải, do tác động tương hỗ với vật tày bề mặt xô xám.
- Gãy xương đốt gần ngón 2 chân trái do tác động tương hỗ với vật tày.
Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 529-23/KLTTCT-GĐPY, ngày 01/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T và Công văn số 11-24/CV-GĐPY ngày 20/3/2024 của Trung tâm G kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Đức T1 tại thời điểm giám định là: 21%.
- Vật gây, cơ chế hình thành dấu vết:
- Vết thương mặt sau khuỷu phải do vật sắc tác động theo hướng từ phải sang trái phù hợp tư thế chống đỡ.
- Vết thương mặt ngoài 1/3 dưới cẳng tay phải và gãy xương quay phải do vật sắc tác động theo hướng từ trước ra sau chếch xuống dưới.
- Vết thương mặt mu bàn ngón I tay phải do vật sắc tác động theo hướng từ bàn tay đến ngón tay.
- Hai vết thương nhỏ vùng cổ tay do vật sắc tác động theo phương thẳng đứng.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 150/KLGĐ, ngày 22/01/2024 của Trung tâm P kết luận:
Trước thời điểm gây án:
a. Kết luận về y học: Rối loạn loạn thần trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy, chủ yếu đa dạng. (F19.53)
b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi
Tại thời điểm gây án:
Kết luận về y học: Rối loạn loạn thần trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy, chủ yếu đa dạng. (F19.53)
b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Thời điểm hiện tại:
a. Kết luận về y học: Rối loạn loạn thần trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy, chủ yếu đa dạng. (F19.53)
Đối tượng cần được cách ly ma túy.
b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
* Vật chứng thu giữ:
- Một cái bao (loại bao xác rắn bên ngoài có dòng chữ ‘Cỏ May” loại 10kg); 01 cái rựa dài 55cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 27 cm, rộng 4cm, một cạnh sắc, cong ở phần mũi; 04 vỏ chai bia Huda loại 500ml và một số mảnh vỡ vỏ chai bia Huda; 01 vỏ bao thuốc lá Jet. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra lệnh nhập kho vật chứng tại Công an huyện P.
* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Một cái ghế xếp bằng kim loại màu sáng ánh kim, kích thước 58cm x 172cm; 01 lưới cái xẻng kích thước 24cm x20cm và 01 cái cán xẻng bằng tre rỗng, đường kính 2,5cm đã bị gãy thành 02 đoạn dài 50cm và bị dập vỡ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Thanh D.
- Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, màu xanh, biển số 75H1- 181.04 (đã qua sử dụng). Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Huỳnh Văn N (là anh trai của bị cáo B).
- Bị hại Ngô Đức T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh D (con ông Nguyễn Thanh C1) đều không có yêu cầu gì về dân sự.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Văn B đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Người bào chữa cho bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng là ông Đặng Ngọc T2 và ông Ngô Đức T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSPV ngày 20 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố Huỳnh Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm d, đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm q; s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: Một cái bao (loại bao xác rắn bên ngoài có dòng chữ ‘Cỏ May” loại 10kg); 01 cái rựa dài 55cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 27 cm, rộng 4cm, một cạnh sắc, cong ở phần mũi; 04 vỏ chai bia Huda loại 500ml và một số mảnh vỡ vỏ chai bia Huda; 01 vỏ bao thuốc lá Jet.
Đối với các vật chứng khác, Cơ quan điều tra đã xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Ngô Đức T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh D đều không có yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự nên đề nghị HĐXX không xét.
Về án phí: Đề nghị Tòa tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng d, đ khoản 2 Điều 134; điểm q; s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B 2 năm 6 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người bào chữa cho bị cáo, Bị hại là ông Ngô Đức T1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh D; người làm chứng là ông Đặng Ngọc T2 ông Ngô Đức T3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Người bào chữa có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án và họ đã có đầy đủ lời khai ở trong hồ sơ. Căn cứ Điều 291, 292, 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[3]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 15/09/2023, tại thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Huỳnh Văn B đã có hành vi đánh đuổi và dùng rựa chém vào người anh Ngô Đức T1 gây tổn hại sức khỏe 21%. Hành vi dùng rựa gây thương tích của Huỳnh Văn B thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, Huỳnh Văn B có 03 tiền án, nay phạm tội với tính chất cố ý, thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Huỳnh Văn B là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng lại cố tình thực hiện. Hành vi này không những xâm phạm đến tính mạng sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, do đó cần thiết phải xử lý thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Văn B là người có nhân thân rất xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và 03 lần bị xử lý hình sự về phạm các tội Cố ý gây thương tích; hủy hoại tài sản, nên lần phạm tội này bị cáo phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Thời điểm gây án, bị cáo là người rối loạn loạn thần do sử dụng nhiều loại ma túy đã được kết luận là hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phân tích ở trên, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy: Một cái bao (loại bao xác rắn bên ngoài có dòng chữ ‘Cỏ May” loại 10kg); 01 cái rựa dài 55cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 27 cm, rộng 4cm, một cạnh sắc, cong ở phần mũi; 04 vỏ chai bia Huda loại 500ml và một số mảnh vỡ vỏ chai bia Huda; 01 vỏ bao thuốc lá Jet.
Đối với các vật chứng khác, Cơ quan điều tra đã xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
[7] Đối với Đặng Ngọc T2, mặc dù có hành vi đánh anh Ngô Đức T1, tuy nhiên T2 không biết sự việc trước từ đầu, khi nhìn thấy T1 xô xát với B thì T2 dùng cán xẻng đánh T1 nhằm mục đích can ngăn T1 đánh B, hành vi của T2 không gây ra thương tích nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B 03 (Ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/10/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Một cái bao (loại bao xác rắn bên ngoài có dòng chữ “Cỏ May” loại 10kg); 01 cái rựa dài 55cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 27 cm, rộng 4cm, một cạnh sắc, cong ở phần mũi; 04 vỏ chai bia Huda loại 500ml và một số mảnh vỡ vỏ chai bia Huda; 01 vỏ bao thuốc lá Jet. (đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang ngày 15 tháng 05 năm 2024).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 3 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Huỳnh Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 14/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 3 năm
