Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Kim Nhung và bà Đinh Thị Hương

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST - HS ngày 10/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn D - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20/11/1987 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 3/12; con ông Hoàng Xuân P – đã chết và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; có vợ và một con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình từ ngày 01/02/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1958. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn D là một người nghiện ma túy. Ngày 31/01/2024, D đi xe ô tô khách từ xã T, huyện T đến khu vực nhà máy B – rượu thuộc phường B, thành phố Đ để hỏi mua ma túy. Tại đây, D gặp một người đàn ông lạ mặt, không biết tên, tuổi, địa chỉ, D hỏi mua ma túy thì người đàn ông đó đồng ý bán cho D 59 viên ma túy loại viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược (trong đó có 58 viên màu hồng và 01 viên màu xanh) được gói trong túi nilon màu xanh với giá 4.130.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D đem về nhà cất giấu. Đến 14 giờ 35 phút ngày 01/02/2024, D lấy 13 viên ma túy, gói trong túi nilon màu hồng, cầm trên tay phải rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73D1-293.39 đi tìm chỗ sử dụng. Khi đến địa phận thôn H, xã T, huyện T thì bị Tổ công tác Công an xã T, huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ gói nilon màu hồng chứa 13 viên ma túy loại hồng phiến và các vật chứng liên quan.

Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn D, phát hiện ở gian nhà bếp có một ấm đun nước bằng kim loại, bên trong có một túi nilon màu xanh chứa 45 viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược, trong đó có 45 viên màu hồng và 01 viên màu xanh. Hoàng Văn D khai nhận số viên nén bị thu giữ khi bắt quả tang và trong quá trình khám xét nơi ở là ma túy loại hồng phiến, do D mua về tàng trữ để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 241/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận:

  • 13 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, thu giữ trên người của Hoàng Văn D là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,308 gam.
  • 45 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, thu giữ tại nơi ở Hoàng Văn D là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 4,442 gam.
  • 01 (một) viên nén hình tròn, màu xanh, dạng thuốc tân dược, thu giữ tại nhà Hoàng Văn D không phải là chất ma túy, khối lượng 0,09 gam.
  • Tổng khối lượng chất ma túy: 5,75 gam Methamphetamine (Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ:

  • 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn X - Bạc - Đen, số máy E32VE578005, số khung RLCUE3740NY144192, biển kiểm soát 73D1 - 293.39, xe đã qua sử dụng.
  • 13 viên nén, hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, là ma túy loại Methamphetamine thu giữ trong khi bắt quả tang Hoàng Văn D, có khối lượng 1,308 gam, sau khi giám định, số ma túy còn lại là 1.1 gam; 45 viên nén, hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, là ma túy loại Methamphetamine thu giữ trong khi khám xét nơi ở của Hoàng Văn D, có khối lượng 4,442 gam. Tổng khối lượng là 5,75 gam Methamphetamine. Số ma túy còn lại sau giám định tổng cộng là 5,282 gam.
  • 01 viên nén hình tròn, màu xanh, dạng thuốc tân dược, thu giữ tại nhà Hoàng Văn D không phải là chất ma túy, khối lượng 0,09 gam, đã hết sau giám định.

Số ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói, được đựng trong 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi “241/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có:

  • 1,1 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung "A1".
  • 4,182 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”.

Bản cáo trạng số: 11/CT – VKSTH – HS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Hoàng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Hoàng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Hoàng Văn D từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/02/2024.

Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi “241/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có:
    • 1,1 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung "A1".
    • 4,182 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”.
  • Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bà Nguyễn Thị H là người quản lý hợp pháp: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn X - Bạc - Đen, số máy E32VE578005, số khung RLCUE3740NY144192, biển kiểm soát 73D1 - 293.39, xe đã qua sử dụng.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH buộc bị cáo Hoàng Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn D tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình; không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn D: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trẻ tuổi, có sức khoẻ, biết được việc tàng trữ ma tuý là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do lối sống buông thả, thiếu lành mạnh của bản thân nên bị cáo đã sa vào nghiện ngập ma tuý. Do đó, ngày 31/01/2024, D đi xe ô tô khách từ xã T, huyện T đến khu vực nhà máy B – rượu thuộc phường B, thành phố Đ để hỏi mua ma túy. Tại đây, D gặp một người đàn ông lạ mặt hỏi mua ma túy thì người đàn ông đó đồng ý bán cho D 59 viên ma túy loại viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược (trong đó có 58 viên màu hồng và 01 viên màu xanh) với giá 4.130.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D đem về nhà cất giấu. Đến 14 giờ 35 phút ngày 01/02/2024, D lấy 13 viên ma túy rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73D1-293.39 đi tìm chỗ sử dụng. Khi đến địa phận thôn H, xã T, huyện T thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện T phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma tuý, số ma tuý mà Hoàng Văn D tàng trữ có tổng khối lượng là 5,75 gam Methamphetamine. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của những người chứng kiến trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo đã tàng trữ, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa bàn, gây tệ nạn cho xã hội và tạo sự hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe chung. Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bản thân thật sự ăn năn, hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo phù hợp với chính sách nhân đạo của Nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; các điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau khi đã chấp hành án, trở về hoà nhập cộng đồng xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi “241/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có:
    • 1,1 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung "A1".
    • 4,182 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn X - Bạc - Đen, số máy E32VE578005, số khung RLCUE3740NY144192, biển kiểm soát 73D1 - 293.39, xe đã qua sử dụng quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã xác định đây là tài sản chung của gia đình mẹ bị cáo là người quản lý hợp pháp, việc bị cáo dùng xe để đi sử dụng ma túy gia đình không biết. Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho bà Nguyễn Thị H là người quản lý hợp pháp.

[7] Liên quan trong vụ án, Hoàng Văn D khai nhận vào ngày 31/01/2024 đã mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực nhà máy B – rượu thuộc phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên, quá trình điều tra không đủ tài liệu để xác minh, làm rõ nên không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Hoàng Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

- Về hình phạt: Xử phạt Hoàng Văn D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 01/02/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng vụ án:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi “241/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có:
    • 1,1 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung "A1".
    • 4,182 gam ma túy, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”.
  • Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho người quản lý hợp pháp bà Nguyễn Thị H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn X - Bạc - Đen, số máy E32VE578005, số khung RLCUE3740NY144192, biển kiểm soát 73D1 – 293.39, xe đã qua sử dụng.

Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Hoàng Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/4/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Đoàn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger