Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LƯƠNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 24/04/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Lý.
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư.
  • 2. Bà Nguyễn Thị Chuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST- HS, ngày 10 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn G, sinh ngày: 30/9/1999. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
    • Nơi cư trú: xóm Na Mẩy, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12.
    • Họ và tên bố: Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1979. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Hường, sinh năm 1979. Vợ: Trần Thị Thu Hương, sinh năm 2001. Con: Có 01 con, sinh năm 2020.
    • Bị cáo G là con duy nhất trong gia đình.
    • Tiền án, tiền sự: Không có.
    • Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Phú Lương.
  2. Họ và tên: Lý Xuân H, sinh ngày 14/01/1991. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
    • Nơi cư trú: xóm Na Hiên, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
    • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12.
    • Bố: Không có; Họ và tên mẹ: Lý Thị Kỳ, sinh năm 1957. Vợ, con: Chưa có.
    • Bị cáo H là con duy nhất trong gia đình.
    • Tiền án, tiền sự: Không có.
    • Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Phú Lương.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng: Ma Văn H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Xóm Bản Héo, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Văn Sân, sinh năm 1962; Địa chỉ: Xóm Bản Héo, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 22/12/2023, Tổ công tác Công an huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang tại khu vực xóm Bản Héo, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn G đang bán trái phép chất ma túy cho Ma Văn H và Lý Xuân H.

  • Thu giữ trong túi quần bên phải của Nguyễn Văn G đang mặc có 01(một) lọ nhựa màu trắng có nắp màu vàng bên trong lọ có 01 (một) gói nhỏ chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine được gói bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng.
  • Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Ma Văn H có 01 (một) gói chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine được gói bên ngoài bằng lớp giấy trắng có dòng kẻ.
  • Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lý Xuân H có 01 (một) gói chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine được gói bên ngoài bằng lớp giấy trắng có dòng kẻ.
  • Thu giữ trong túi quần bên trái của Nguyễn Văn G đang mặc có số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) theo G khai nhận là số tiền vừa bán ma túy cho H và H có được.

Tại kết luận giám định số: 93/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn G là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,145 gam; Chất bột màu trắng thu giữ của Ma Văn H là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,055 gam; Chất bột màu trắng thu giữ của Lý Xuân H là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,153 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn G, Lý Xuân H và đối tượng Ma Văn H khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 ngày 21/12/2023 Nguyễn Văn G một mình từ nhà ở tại xóm Na Mẩy, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương bắt xe buýt đi xuống khu vực gần trạm BOT thuộc xóm 8, xã Sơn Cẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời. Đến nơi, G gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không quen biết 01(một) gói ma túy loại heroine với số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy mang về nhà G chia nhỏ ra làm 04 (bốn) gói nhỏ và dùng giấy gói lại, sau đó G sử dụng 01 (một) gói bằng hình thức hít, còn lại 03 gói G cất trong lọ nhựa màu trắng có nắp nhựa màu vàng và để trong túi quần mặc trên người. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/12/2023 G một mình đi bộ sang nhà Ma Văn H ở xóm Bản Héo, xã Yên Trạch, Phú Lương, Thái Nguyên chơi. Đến nơi, G gặp H và Lý Xuân H, H và H có hỏi mua ma túy của G. H đưa cho G số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng), G nhận tiền rồi đưa lại cho H 01 (một) gói Heroin được gói bên ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ. Sau đó, H đưa cho G số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), G nhận tiền và đưa bán cho H 01 (một) gói Heroin được gói bên ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ. Ngay sau đó, Tổ Công tác Công an huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng theo quy định.

Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, bên trong có 0,133 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu B1 hoàn trả sau giám định của Nguyễn Văn G; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 0,035 gam mẫu B3 và vỏ bao gói mẫu B3 hoàn trả sau giám định của Ma Văn H; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B5, bên trong có 0,143 gam mẫu B5 và vỏ bao gói mẫu B5 hoàn trả sau giám định của Lý Xuân Hoà; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1, 01 lọ nhựa màu trắng và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn G; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B4, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Ma Văn H; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B6, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A3 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Lý Xuân Hoà.
  • + Tiền Việt Nam: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn G, hiện đã được chuyển vào tài khoản của Công an huyện Phú Lương tại Kho Bạc Nhà nước huyện Phú Lương theo quy định.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKSPL ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội:

“Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Truy tố Lý Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vị Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bố:

  • Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 07 ( bẩy) đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 22/12/2023
  • Phạt bổ sung: 5.000.000₫ đến 7.000.000₫.
  • Bị cáo Lý Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Lý Xuân H từ 18 ( mười tám) đến 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 22/12/2023.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, bên trong có 0,133 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu B1 hoàn trả sau giám định của Nguyễn Văn G; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 0,035 gam mẫu B3 và vỏ bao gói mẫu B3 hoàn trả sau giám định của Ma Văn H; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B5, bên trong có 0,143 gam mẫu B5 và vỏ bao gói mẫu B5 hoàn trả sau giám định của Lý Xuân Hoà; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1, 01 lọ nhựa màu trắng và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn G; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B4, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Ma Văn H; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B6, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A3 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Lý Xuân Hoà.
    • - Tịch thu sung quỹ số tiền 200.000đ thu giữ của Nguyễn Văn G.
  • Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    • Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    • Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
    • Tại phiên toà vắng mặt người chứng kiến, người làm chứng. Các bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến, người làm chứng. Việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến, người làm chứng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến, người làm chứng theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
  2. Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

    Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 22/12/2023, tại khu vực xóm Bản Héo, xã Yên Trạch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác Công an huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn G đang bán trái phép chất ma túy cho hai 02 người Ma Văn H và Lý Xuân H, thu giữ của Nguyễn Văn G 01 gói nhỏ Heroine có trọng lượng 0,145 gam và 200.000 đồng tiền Việt Nam, thu giữ của Lý Xuân H 01 gói Heroin có trọng lượng 0,153 gam, thu giữ của Ma Văn H 01 gói Heroine có trọng lượng là 0,055 gam.

    Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

    Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...

    2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7năm đến 15 năm:

    c) Đối với 02 người trở lên".

    Hành vi của bị cáo Lý Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

    Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    a)...

    c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam.”

    2....”

  3. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quyền lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
    • Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo G và H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
    • Từ những căn cứ nêu trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc có một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo G, bị cáo H gây ra.
  4. Về hình phạt bổ sung:
    • Hành vi mua bán ma túy của bị cáo G nhằm mục đích kiếm lời nên cần phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
    • Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo Lý Xuân H phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, không có thu nhập ổn định, không có tài sản. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo H.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Xét thấy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, bên trong có 0,133 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu B1 hoàn trả sau giám định của Nguyễn Văn G; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 0,035 gam mẫu B3 và vỏ bao gói mẫu B3 hoàn trả sau giám định của Ma Văn H; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B5, bên trong có 0,143 gam mẫu B5 và vỏ bao gói mẫu B5 hoàn trả sau giám định của Lý Xuân Hoà; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1, 01 lọ nhựa màu trắng và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Nguyễn Văn G; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B4, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Ma Văn H; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B6, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A3 và vỏ giấy gói thu giữ ban đầu của Lý Xuân Hoà là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • Số tiền 200.000đ thu của Nguyễn Văn G, G khai là số tiền bán ma túy cho H, H. Xét đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  6. Về nguồn số ma túy thu giữ của G, H, H, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo G khai mua của một người đàn ông lạ mặt không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh xử lý.
  7. Trong vụ án, Ma Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,053 gam Heroine, hành vi của H không cấu thành tội phạm. Công an huyện Phú Lương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ma Văn H là phù hợp.
  8. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
  9. Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo G, bị cáo H với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.
  10. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
  11. Thông báo về quyền kháng cáo: Bị cáo G, H được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” .
    • Áp dụng Điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt Nguyễn Văn G 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
    • Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn G 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lý Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt Lý Xuân H 01(một)năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
    • Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lý Xuân H.
  3. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn G, bị cáo Lý Xuân H với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
    • Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, bên goài ghi: Hoàn trả 0,133 gam mẫu B1 và vỏ bao gói mẫu B1;
      • + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B2, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và giấy gói, 01 (một) lọ nhựa.
      • + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,035 gam mẫu B3 và vỏ bao gói mẫu B3.
      • + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B4, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A2 .
      • + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B5, bên ngoài ghi: Hoàn trả 0,143 gam mẫu B5 và vỏ bao gói mẫu B5.
      • + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B6, bên ngoài ghi: Bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A3 và vỏ giấy gói.
    • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 200.000₫ ( hai trăm nghìn đồng) thu của bị cáo G.

      (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 9/4/2024 và Ủy nhiệm chi số 43 ngày 9/4/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương ).

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • Bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
    • Bị cáo Lý Xuân H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
  6. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo (Nguyễn Văn G, Lý Xuân H), có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Lương;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Lương;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Lương;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Lương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Minh Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger