Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------

Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 tháng 4 năm 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích

Ông Nguyễn Kim Thành

-Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Phòng 409, nhà A, chung cư V, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Phòng 409, nhà A, chung cư V, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị V trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lê Thị V và ông Nguyễn Văn C kết hôn vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy đăng ký kết hôn số 22 ngày 02 tháng 03 năm 2004. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại nhiều nơi tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn C có những hành vi đe dọa tính mạng và lời lẽ xúc phạm đến danh dự và nhân phẩm của bà Lê Thị V, các con và người nhà bà, ông cũng không có đóng góp kinh tế trong gia đình. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng mặc dù còn sống chung trong một căn nhà nhưng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau từ năm 2018 cho đến nay. Bà Lê Thị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Về con chung: Bà Lê Thị V xác nhận vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Lê P, sinh ngày 06/06/2003 và Nguyễn Lê K sinh ngày 25/4/2011. Ly hôn bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Lê K, con chung Nguyễn Lê P đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên bà không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng. Không yêu cầu ông Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị V xác định bà và ông Nguyễn Văn C không có tài sản chung và nợ chung.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt, không có ý kiến.

-Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử.

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị V đối với ông Nguyễn Văn C. Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn C; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Lê K, sinh ngày 25/4/2011 cho bà Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông Nguyễn Văn C không cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Nguyễn Lê P, sinh ngày 06/6/2003 đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị V xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với ông Nguyễn Văn C vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Văn C cư trú tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Bị đơn ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị V và ông Nguyễn Văn C xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà Lê Thị V xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về kinh tế, ông Nguyễn Văn C thường xuyên đe dọa tính mạng và xúc phạm nhân phẩm, danh dự, ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất các thành viên trong gia đình. bà V có cung cấp bằng chứng video ghi lại sự việc vợ chồng nhiều lần cãi vã xô xát nhau. Từ năm 2018 vợ chồng ông bà đã không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đối với ông Nguyễn Văn C vắng mặt, không có ý kiến.

Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự có nhiều mâu thuẫn dẫn đến không còn yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau là có thật. Việc bị đơn ông Nguyễn Văn C không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy ông không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị V phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

[2.2]. Về con chung: Bà Lê Thị V xác định vợ chồng bà có 02 con chung, trong đó có 01 con chưa thành niên hiện do bà V chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên, không yêu cầu ông Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung đã thành niên và phát triển bình thường nên không đề cập đến.

Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế hiện nay con chung do bà Lê Thị V chăm sóc nuôi dưỡng có chính quyền địa phương xác nhận, bà V có cung cấp tài liệu chứng minh bà có việc làm thu nhập ổn định đảm bảo khả năng khả năng nuôi dưỡng chăm sóc con chung, con chung đã trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng muốn được sống với mẹ, do đó căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, tiếp tục giao con chung Nguyễn Lê K, sinh ngày 25/4/2011 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị V xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung. Đối với ông Nguyễn Văn C vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Lê Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình.

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của bà Lê Thị V đối với ông Nguyễn Văn C.

  1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn C (Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2004, Quyển số 01/2004 do Uỷ ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/03/2004 không còn giá trị pháp lý).
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Lê K, sinh ngày 25/4/2011 cho bà Lê Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên. Ông Nguyễn Văn C không cấp dưỡng nuôi con chung.

Con chung Nguyễn Lê P, sinh ngày 06/6/2003 đã thành niên nên không đề cập đến vấn đề người nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Lê Thị V đã nộp theo biên lai thu số 0001853 ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
  2. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - UBND phường B,
  • quận H, thành phố Đà Nẵng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà V và ông C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger