Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 20-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Quách Nhơn;
  2. Bà Hoàng Thị Thương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Cảnh Sách - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/HSST, ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Thị Kiều O, sinh ngày 29/5/1960 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đạo T (đã chết) và bà Bành Thị Ngọc S (đã chết); Bị cáo có 09 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Chồng: Hoàng Xuân H (đã chết); Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án; tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình nuôi ăn học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình làm ăn sinh sống tại địa phương ở thị trấn S. Năm 1983 lập gia đình và làm ăn sinh sống tại thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế cho đến nay.

Ngày 18/10/2017 bán lô đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô đề bị Công an huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 1.500.000 đồng theo Quyết định số 218 ngày 30/11/2017 (đã nộp tiền phạt ngày 15/12/2017).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

2. Ngô Kỳ L, sinh ngày 26/02/1988 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: thợ cơ khí; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Thành C (đã chết) và bà Lê Thị Mỹ H1, sinh năm 1953; Bị cáo có 02 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ: Lê Thị Phượng H2, sinh năm 1992; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án; tiền sự: Không;

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình nuôi ăn học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình làm ăn sinh sống tại địa phương cho đến nay.

Ngày 11/02/2022 Đánh bạc bị UBND huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 1.500.000 đồng, theo Quyết định số 302/QĐ-XPHC ngày 27/01/2022 (đã nộp tiền phạt ngày 28/01/2022).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

3. Nguyễn Đình Quang V, sinh ngày 07/3/1992 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1964 và bà Đinh Thị Yến N, sinh năm 1966; Bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị X, sinh năm 1993; Con: Có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án; tiền sự: Không;

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình nuôi ăn học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình làm ăn sinh sống tại địa phương cho đến nay.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Mỹ L1, sinh năm 1972. Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn K, sinh năm 1957. Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  3. Bà Hoàng Thị Hồng Đ1, sinh năm 1990. Nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  4. Ông Nguyễn Thất H3, sinh năm 1976. Nơi cư trú: T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  5. Ông Văn H4, sinh năm 1992. Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 17 giờ 45 phút ngày 17/01/2024, Lê Thị Kiều O đang có hành vi tổng hợp những con số trên tịch đề tại nhà riêng ở thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế để đánh bạc bằng hình thức ghi số đề thì bị Công an huyện Q phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ số tiền 3.800.000 đồng, 02 tờ giấy A4 ghi các con số đề (tịch đề) và 01 điện thoại di động. Quá trình điều tra, xác minh mở rộng đối với vụ án đã xác định được việc “Đánh bạc” bằng hình thức ghi số đề, cụ thể như sau:

Khoảng tháng 11/2023, Ngô Kỳ L lập nhóm zalo với tên “Vinh Phúc, DOREMON, M, O1, doremon” (gồm 04 thành viên, trong đó Ngô Kỳ L với tên “Vinh Phúc và DOREMON”; Lê Thị kiều Oanh với tên “Oanhkieu”; Nguyễn Đình Quang V với tên “Meo”; Trần Thị Mỹ L1 với tên “doremon”) để nhận tịch đề đánh bạc qua tin nhắn zalo của Lê Thị Kiều O và Trần Thị Mỹ L1 (sinh năm 1972, trú tại: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ngô Kỳ L có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Đình Quang V nên L thỏa thuận nhờ V giúp cho L khi các con bạc chuyển tịch đề lên nhóm Z thì nhận, tổng hợp, tính thắng thua thành tiền và L sẽ trả tiền công cho V. Sau khi ghi đề, O, L1 ghi ra giấy để tổng hợp và chụp ảnh lại rồi chuyển cho Ngô Kỳ L. Khi nhận được các con số đánh đề và tịch đề thì L hoặc V xác nhận bằng tin nhắn “OK” hoặc thả biểu tượng hình trái tim tức là đồng ý và sử dụng kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N, miền T, miền B để tính kết quả thắng, thua tương ứng các con số trên tịch đề.

Giữa Lê Thị Kiều O và Ngô Kỳ L thống nhất các thức ghi đề, tính tiền thắng thua và tiền hoa hồng như sau:

Số tiền cộng thêm vào tịch đề mỗi khi O ghi đề cho các con bạc và chuyển lên cho L là 35% vào số tiền thực tế để thành tiền đánh đề.

Khi các con bạc trúng đề, số tiền thắng đề (số tiền các con bạc được nhận) là tiền đánh đề (tiền trên tịch cộng thêm 35%) rồi nhân với tỉ lệ thắng đề đối với từng loại cụ thể:

  • Đối với số đề đài miền N và miền T có tiền thắng đề là:
    • + Đối với số đề có 02 (hai) chữ số:
      • Bao 18 lô thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 70 : 18
    • + Đối với số đề có 03 (ba) chữ số:
      • Bao 17 lô thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 60 : 17
      • Bao thượng thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 100
      • Bao đặc biệt thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 600
  • Đối với số đề đài miền B có tiền thắng đề là:
    • + Đối với số đề có 02 (hai) chữ số:
      • Bao 27 lô thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 70 : 27
      • Xuyên 2 thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 10
      • Xuyên 3 thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 40
    • + Đối với số đề có 03 (ba) chữ số:
      • Bao 23 lô thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 60 : 23
      • Bao thượng thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 60 : 10
      • Bao đặc biệt thì tiền thắng đề là tiền trên tịch x 600

Tiền hoa hồng Lê Thị Kiều O nhận được từ Ngô Kỳ L là 5,2% (tức là nếu O chuyển tịch đề cho L với số tiền thực tế là 1.000.000 đồng thì O được hưởng số tiền hoa hồng là 52.000 đồng), thanh toán tiền thắng thua bằng hình thức trả tiền trực tiếp.

Căn cứ tịch đề thu được và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định tang số phải chịu trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:

1. Đối với Ngô Kỳ L:

* Ngày 16/01/2024, đã nhận tịch đề của Lê Thị Kiều O với số tiền đánh đề và thắng đề của các đài như sau:

  • - Đài miền T (Quảng Nam, ĐăkLăk): số tiền đánh đề 7.912.000 đồng; số tiền thắng 0 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là 7.912.500 đồng.
  • - Đài miền B (Quảng Ninh): số tiền đánh đề 4.185.000 đồng; số tiền thắng 7.950.000 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là: 12.135.000 đồng.

Tổng số tiền Ngô Kỳ L dùng để đánh bạc ngày 16/01/2024 là 20.047.500 đồng. Trong đó, số tiền con bạc đánh 12.097.500 đồng, số tiền con bạc thắng đề 7.950.000 đồng; L có 02 lần đánh bạc với tổng số tiền dùng đánh bạc mỗi lần của 01 (một) đài từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng (đài miền B và đài miền T).

* Ngày 17/01/2024, đã nhận tịch đề của Lê Thị Kiều O với số tiền đánh đề và thắng đề của các đài như sau:

  • - Đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng): số tiền đánh đề 975.000 đồng; số tiền thắng 0 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là 975.000 đồng.
  • - Đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa): số tiền đánh đề 2.794.500 đồng; số tiền thắng 262.500 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là: 3.057.000 đồng.

Tổng số tiền Ngô Kỳ L dùng để đánh bạc ngày 17/01/2024 là 4.032.000 đồng. Trong đó, số tiền con bạc đánh 3.769.500 đồng, số tiền con bạc thắng đề 262.500 đồng; L có 02 lần đánh bạc (đài miền N và đài miền T) nhưng tất cả các lần đều dưới 5.000.000 đồng.

Ngày 16/01/2024, Trần Thị Mỹ L1 ghi đề chuyển tịch đề lên cho Ngô Kỳ L số tiền đánh đề 2.951.000 đồng (gồm đài miền T: 1.215.000 đồng và đài miền B 1.736.000 đồng). Tuy nhiên, do L1 chuyển tịch đề bị trễ giờ nên L không nhận nên L1 đã thu hồi tin nhắn tịch đề và tự thanh toán thắng thua với những người ghi đề.

Do đó, tang số Lân phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là 20.047.500 đồng (hai mươi triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Số tiền thu lợi bất chính của Ngô Kỳ L trong hai ngày (16/01/2024 và 17/01/2024) là: 545.028 + 2.384.527 = 2.929.555 đồng (hai triệu chín trăm hai mươi chín nghìn năm trăm năm mươi lăm đồng).

2. Đối với Nguyễn Đình Quang V

Trong ngày 16 và 17 tháng 01 năm 2024, V là người giúp sức cho Ngô Kỳ L trong việc nhận tịch đề và thanh toán tịch đề của các con bạc khác nên Nguyễn Đình Quang V là đồng phạm với Ngô Kỳ L. Do đó, tang số đánh bạc của Nguyễn Đình Quang V cũng chính là tang số đánh bạc của Ngô Kỳ L vào các ngày 16, 17 tháng 01 năm 2024.

Do đó, tang số V phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là: 20.047.500 đồng (hai mươi triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Số tiền thu lợi bất chính của V là 200.000 đồng (số tiền công do Ngô Kỳ L chi trả trong ngày 16/01/2024).

3. Đối với Lê Thị Kiều O

* Ngày 16/01/2024, O nhận ghi đề cho các con bạc không xác định được nhân thân, lai lịch và tổng hợp chuyển lên toàn bộ tịch đề cho Ngô Kỳ L với số tiền đánh đề và thắng đề của các đài như sau:

  • - Đài miền T (Quảng Nam, ĐăkLăk): số tiền đánh đề 7.912.000 đồng; số tiền thắng 0 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là: 7.912.500 đồng.
  • - Đài miền B (Quảng Ninh): số tiền đánh đề 4.185.000 đồng; số tiền thắng 7.950.000 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là: 12.135.000 đồng.

Tổng số tiền O dùng để đánh bạc ngày 16/01/2024 là 20.047.500 đồng. Trong đó, số tiền con bạc đánh 12.097.500 đồng, số tiền con bạc thắng đề 7.950.000 đồng; O có 02 lần đánh bạc với tổng số tiền dùng đánh bạc mỗi lần của 01 (một) đài từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng (đài miền B và đài miền T).

* Ngày 17/01/2024, Lê Thị Kiều O nhận ghi đề cho các con bạc gồm Nguyễn K1, Hoàng Thị Hồng Đ1, Nguyễn Thất H3, Văn H4 và khoảng 03-04 người chơi khác chưa xác định được nhân thân, lai lịch rồi tổng hợp chuyển cho Ngô Kỳ L một số tịch đề để hưởng tiền hoa hồng, một số tịch đề con lại O chưa chuyển kịp thì bị phát hiện với số tiền đánh đề vả thắng đề của các đài như sau:

  • - Đài miền N (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng): số tiền đánh đề 975.000 đồng; số tiền thắng 0 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là: 975.000 đồng.
  • - Đài miền T (Đà Nẵng, Khánh Hòa): số tiền đánh đề 4.887.000 đồng; số tiền thắng 262.500 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là: 5.149.500 đồng.
  • - Đài miền B (Bắc Ninh): số tiền đánh đề 2.187.000 đồng; số tiền thắng 0 đồng. Tổng tiền đánh đề và tiền thắng đề là: 2.187.000 đồng.

Tổng số tiền Lê Thị Kiều O dùng để đánh bạc ngày 17/01/2024 là 8.311.500 đồng. Trong đó, số tiền con bạc đánh 8.049.000 đồng, số tiền con bạc thắng đề 262.500 đồng. O có 03 lần đánh bạc, trong đó có 02 lần của 02 đài (đài miền N và đài miền B) có tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và 01 lần của 01 đài (đài miền T) có tổng số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng.

Do đó tang số O phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này là: 20.047.500 đồng (ngày 16/01/2024) + 5.149.000 đồng (ngày 17/01/2024) = 25.197.000 đồng (hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

Số tiền thu lợi bất chính của Lê Thị Kiều O trong hai ngày 16 và 17 tháng 01 năm 2024 là 465.972 đồng +3.315.195 đồng = 3.781.167 đồng (ba triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng).

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Lê Thị Kiều O, Ngô Kỳ L, Nguyên Đình Quang V1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

  • Số tiền 3.800.000 đồng thu giữ trên người của Lê Thị Kiều O liên quan đến hành vi đánh bạc.
  • Số tiền 2.929.555 đồng do Ngô Kỳ L tự nguyện giao nộp (tiền thu lợi bất chính ngày 16, 17/01/2024).
  • Số tiền 3.781.167 đồng do Lê Thị Kiều O tự nguyện giao nộp (tiền thu lợi bất chính ngày 16, 17/01/2024).
  • Số tiền 200.000 đồng do Nguyễn Đình Quang V tự nguyện giao nộp (tiền thu lợi bất chính từ việc ghi số đề của V).
  • Số tiền 80.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức ghi soo0s đề của Trần Thị Mỹ L1 tự nguyện giao nộp.
  • Số tiền 2.120.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của Hoàng Thị Hồng Đ1 tự nguyện giao nộp.
  • Số tiền 30.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của Văn H4 tự nguyện giao nộp.
  • Số tiền 1.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của Nguyễn Thất H3 tự nguyện giao nộp.
  • Số tiền 2.757.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức ghi số đề của Nguyễn K tự nguyện giao nộp.
  • Số tiền 20.000.000 đồng, L tạm ứng trước cho O để tính tiền thắng thua bằng hình thức ghi số đề trong ngày 17/01/2024 và những ngày tiếp theo, Lê Thị Kiều O tự nguyện giao nộp.

Các ngày 25/3/2024, 23/4/2024, 20/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã nộp toàn bộ số tiền 36.697.722 đồng vào tài khoản tiền gửi của Công an huyện Q tại K huyện Q.

  • 01 điện thoại di động Galaxy A13, bên trong máy có số sim 0905965328 của Lê Thị Kiều O.
  • 01 điện thoại di động Iphone 11 M, bên trong có số điện thoại 0909.492.xxx của Ngô Kỳ L.
  • 01 điện thoại di động S1, gắn số thuê bao 0799433222 của Nguyễn Đình Quang V.
  • 01 điện thoại di động Iphone X, vỏ máy màu xanh của ông Nguyễn Kế.
  • 01 điện thoại di động samsung A13 của Trần Thị Mỹ L1.
  • 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax của Hoàng Thị Hồng Đ1.

Ngày 29/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã nhập kho vật chứng các vật chứng nêu trên theo Lệnh nhập kho vật chứng số 62.

  • 01 điện thoại di động DESIGNED BY POCO, IMEI 1: 864926051533769, IMEI 2: 86392605153377 của ông Nguyễn Kế.
  • 01 điện thoại di động Samsung IMEI: 353983/61/161507/1; IMEI 2: 358052/32/161507/1 của ông Nguyễn Kế.

Ngày 25/04/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn K hai chiếc điện thoại di động nêu trên.

  • 02 tờ giấy A4 có ghi các con số đề (tịch đề) của Lê Thị Kiều O (chuyển theo hồ sơ vụ án).

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSQĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố các bị cáo Lê Thị Kiều O, Ngô Kỳ L, Nguyễn Đình Quang V về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội đã gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố tất cả các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” và áp dụng đối với các bị cáo như sau:

  • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36 Bộ luật hình sự; Xử phạt các bị cáo Lê Thị Kiều O và Ngô Kỳ L mỗi bị cáo từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo. Về hình phạt bổ sung, áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo mỗi bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 20.000.0000 đồng.
  • Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 36 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Quang V từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Về hình phạt bổ sung, áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.0000 đồng.
  • * Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

- Số tiền 36.697.722 đồng (ba mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi hai đồng).

- 01 điện thoại di động Galaxy A13, bên trong máy có số sim 0905965328 của Lê Thị Kiều O.

- 01 điện thoại di động Iphone 11 M, bên trong có số điện thoại 0909.492.xxx của Ngô Kỳ L.

- 01 điện thoại di động S1, gắn số thuê bao 0799433222 của Nguyễn Đình Quang V.

Trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- 01 điện thoại di động Iphone X, vỏ máy màu xanh của ông Nguyễn Kế.

- 01 điện thoại di động samsung A13 của Trần Thị Mỹ L1.

- 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax của Hoàng Thị Hồng Đ1.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã đề nghị và có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 16/01/2024 và 17/01/2024, tại nhà riêng của mình ở thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, Lê Thị Kiều O đã có hành vi đánh bạc với Ngô Kỳ L và Nguyễn Đình Quang V bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền, rồi sử dụng kết quả xổ số kiến thiết hằng ngày của các đài xổ số miền N, miền T, miền B để tính thắng thua tương ứng với các con số trên tịch đề. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến vấn đề kinh tế của nhiều gia đình. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:

Các bị cáo đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển được hành vi của mình theo quy định của pháp luật. Cho nên, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có hai người trở lên người cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên vụ án có đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn nên không phạm vào tình tiết phạm tội có tổ chức.

Xét vai trò, mức độ tham gia của từng bị cáo trong vụ án này thì thấy: Các bị cáo Lê Thị Kiều O và Ngô Kỳ L cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là người thực hành. Bị cáo Nguyễn Đình Quang V là người giúp cho bị cáo Ngô Kỳ L trong việc nhận tịch đề và thanh toán tịch đề của các con bạc khác nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là người giúp sức. Trong đó, tang số đánh bạc bị cáo O phải chịu trách nhiệm hình sự là 25.197.000 đồng (hai mươi lăm triệu một trăm chín mươi bảy nghìn đồng); tang số đánh bạc bị cáo L và V phải chịu trách nhiệm hình sự là 20.047.500 đồng (hai mươi triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân:

Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo Lê Thị Kiều O và Ngô Kỳ L từng bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng đã nộp phạt đầy đủ.

Về tình tiết tăng nặng:

Các bị cáo Lê Thị Kiều O, Ngô Kỳ L, Nguyễn Đình Quang V phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có. Bị cáo Nguyễn Đình Quang V có bố được Hội đồng Bộ trưởng Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt:

Đối với các bị cáo O và L tham gia với vai trò tích cực nhất, là người thực hành, do đó cần phải xử phạt với mức hình phạt cao hơn so với bị cáo V. Tuy nhiên các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt tiền bổ sung cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo. Xét thấy các bị cáo làm công việc phổ thông, thu nhập không ổn định nên cần miễn trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo V tham gia với vai trò thấp nhất nên cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt tiền bổ sung với mức hình phạt thấp hơn bị cáo O và L.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - số tiền 36.697.722 đồng (ba mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi hai đồng).

Đây là số tiền mà các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng để đánh bạc và thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  • - 01 điện thoại di động Galaxy A13, bên trong máy có số sim 0905965328 của Lê Thị Kiều O.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 11 M, bên trong có số điện thoại 0909.492.xxx của Ngô Kỳ L.
  • - 01 điện thoại di động S1, gắn số thuê bao 0799433222 của Nguyễn Đình Quang V.

Đây là phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

  • - 01 điện thoại di động Iphone X, vỏ máy màu xanh của ông Nguyễn Kế.
  • - 01 điện thoại di động samsung A13 của Trần Thị Mỹ L1.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax của Hoàng Thị Hồng Đ1.

Đây là tài sản của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần trả lại cho chủ sở hữu.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Kiều O, Ngô Kỳ L, Nguyễn Đình Quang V phạm tội: “Đánh bạc”.

  2. Về hình phạt:

    • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
    • Xử phạt các bị cáo Lê Thị Kiều O và Ngô Kỳ L mỗi bị cáo 18 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo. Xử phạt bổ sung các bị cáo Lê Thị Kiều O và Ngô Kỳ L mỗi bị cáo 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

    • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Quang V 09 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đình Quang V 10.000.000 đông (mười triệu đồng).

    Giao các bị cáo Ngô Kỳ LNguyễn Đình Quang V cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt của các bị cáo Ngô Kỳ LNguyễn Đình Quang V được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được quyết định thi hành án của Tòa án.

    Giao bị cáo Lê Thị Kiều O cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo Lê Thị Kiều O được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được quyết định thi hành án của Tòa án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;

    - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 36.697.722 đồng (ba mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi hai đồng) hiện nay đang gửi tài khoản tiền gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Điền tại K huyện Q.

    (Theo ủy nhiệm chi ngày 08/8/2014)

    - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

    • 01 (Một) chiếc điện thoại di động S1 A13, được gắn thẻ sim số 0905965328; tình trạng: Đã qua sử dụng – trong trạng thái niêm phong, phong bì chuyên dụng số: PS3 2018938; đã đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT; có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong.

    • 01 (Một) chiếc điện thoại di động, có gắn thẻ sim số 0799433222; tình trạng đã qua sử dụng – trong trạng thái niêm phong, phong bì chuyên dụng số: PS3 2018914; đã đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT; có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong.

    • 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám, có gắn thẻ sim số: 0909492484, đã qua sử dụng - trong trạng thái niêm phong, phong bì chuyên dụng số PS3 2018919; đã đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT; có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong.

    - Trả lại cho bà Hoàng Thị Hồng Đ1: 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax, có gắn thẻ sim số: 0373210190, Mật khẩu máy 212121; tình trạng: đã qua sử dụng - trong trạng thái niêm phong, phong bì chuyên dụng số PS3 2018944; đã đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT; có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong.

    - Trả lại cho bà Trần Thị Mỹ L1 01 (Một) chiếc điện thoại di động Samsung A13, có gắn thẻ sim số 0908532295; tình trạng đã qua sử dụng – trong trạng thái niêm phong, phong bì chuyên dụng số: PS3 2018937; đã đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT; có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong.

    - Trả lại cho ông Nguyễn K 01 (Một) chiếc điện thoại di động, vỏ màu xanh; tình trạng: đã qua sử dụng- trong trạng thái niêm phong, phong bì chuyên dụng số PS3 2018945; đã đóng dấu tròn của Cơ quan CSĐT; có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong.

    (Số lượng, tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền).

  4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc các bị cáo Lê Thị Kiều O, Ngô Kỳ L, Nguyễn Đình Quang V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Quảng Điền;
  • - Công an huyện Quảng Điền;
  • - Cơ quan THAHS huyện Quảng Điền;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Điền;
  • - UBND xã Quảng Vinh;
  • - UBND xã Quảng Thành;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS; AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quốc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về đánh bạc

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Kiều Oanh và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger