|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2024
Về việc “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
- Bà Lê Thị Xuân Mai
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm Sát Viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 523/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2023 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Cẩm N, sinh năm 1990.
- Bị đơn: Lê Nguyễn T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: 1 T, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 6 C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/10/2023 và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Hoàng Thị Cẩm N trình bày:
Bà và ông Lê Nguyễn T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 74 quyển số 01/2015 ngày 08/6/2015.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên gây gổ, cãi vã do hai bên tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, cả hai đã cố gắng nhưng không thể hàn gắn được. Hiện nay bà và ông T đã không còn sống chung với nhau. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Nguyễn T.
Về con chung: bà và ông T có 02 con chung tên Lê Hoàng Thảo Nguyên sinh ngày 27/11/2015 và Lê Hoàng Sĩ M sinh ngày 29/10/2017. Sau khi ly thân thì hai con vẫn ở chung với ông T để tiện việc các cháu đi học. Hiện hai con đang học tiểu học tại trường tiểu học N2, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà yêu cầu để ông T được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 21/02/2024, bị đơn ông Lê Nguyễn T trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà Hoàng Thị Cẩm N về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng. Nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý.
Về con chung hiện nay hai con Lê Hoàng Thảo Nguyên sinh ngày 27/11/2015 và Lê Hoàng Sĩ M sinh ngày 29/10/2017 vẫn đang sống cùng ông. Ông yêu cầu để ông được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn – bà Hoàng Thị Cẩm N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Lê Nguyễn T vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự, thẩm phán, thư ký và hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn - bà Hoàng Thị Cẩm N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Lê Nguyễn T có địa chỉ tại số F C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án “tranh chấp về ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 74 quyển số 01/2015 ngày 08/6/2015 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của các đương sự nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thị Cẩm N và ông Lê Nguyễn T là hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của các đương sự đều thể hiện bà Hoàng Thị Cẩm N và ông Lê Nguyễn T có mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được và đều yêu cầu được ly hôn.
Xét thấy tình cảm giữa ông T và bà N đã không còn, tình trạng hôn nhân giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông T.
[3] Về con chung:
Căn cứ giấy khai sinh số 358 ngày 10/12/2015 mang tên Lê Hoàng Thảo N1 và giấy khai sinh số 254 ngày 21/11/2017 mang tên Lê Hoàng Sĩ M do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh và trình bày của các đương sự thì ông Lê Nguyễn T và bà Hoàng Thị Cẩm N có 02 con chung tên Lê Hoàng Thảo Nguyên sinh ngày 27/11/2015 và Lê Hoàng Sĩ M sinh ngày 29/10/2017.
Quá trình giải quyết vụ án ông T và bà N đều xác định, sau khi ông bà ly thân thì hai con đang sống chung với ông T và học tại tiểu học tại Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông bà đều thống nhất để ông T được nuôi hai con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến của trẻ Lê Hoàng Thảo N1 cũng có nguyện vọng được sống với ông T.
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N về việc giao trẻ N1 và M cho ông T nuôi dưỡng.
[4] Về tài sản chung: Bà N, ông T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí: Theo quy định tại điểm a, khoản 5 và điểm a, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án thì Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4, Điều 147; Điều 228; khoản 1, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57; Điều 69; Điều 71; Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Cẩm N.
- - Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị Cẩm N được ly hôn với ông Lê Nguyễn T.
- - Về con chung: Giao 02 trẻ Lê Hoàng Thảo Nguyên sinh ngày 27/11/2015 và Lê Hoàng Sĩ M sinh ngày 29/10/2017 cho ông Lê Nguyễn T trực tiếp nuôi dưỡng.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Hoàng Thị Cẩm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0002168 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3. Bà Hoàng Thị Cẩm N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Hoàng Thị Cẩm N và ông Lê Nguyễn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Hoàng Thị Cẩm N được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Không ai có quyền cản trở bà N thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có quyền quyết định thay đổi người trực tiếp giữ nuôi hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn vì mẫu thuân gia đình
