Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
  Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-PT  
Ngày: 18/6/2024  

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Sơn, bà Trần Thị Mỹ Hải
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17, 18 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 09/2024/TLPT-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp tài sản chung khi ly hôn”. Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Danh M, sinh năm 1990. Có mặt
    Địa chỉ: xóm H, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1989. Có mặt
    Địa chỉ: xóm H, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An

*Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Hoàng Danh M

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 09 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Hoàng Danh M trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y vào ngày 05 tháng 01 năm 2022. Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xẩy ra mâu thuẫn cho tới nay. Nguyên nhân: Do mâu thuẫn nên vợ chồng ly hôn ngày 28/04/2021, sau đó lại về đoàn tụ và đăng ký kết hôn. Về sống với nhau vợ chồng lại tiếp tục mâu thuẫn, xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau nên chị D đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 03/2023 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, Anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vợ chồng.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung.

  • Hoàng Tuấn Đ, sinh ngày 09/03/2011.
  • Hoàng Thị Hà A, sinh ngày 20/10/2016.
  • Hoàng Ngọc H, sinh ngày 11/11/2018.

Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cháu Đ và Hà A, giao chị D nuôi cháu H. Anh không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tài sản chung của vợ chồng gồm có 20m bờ rào, móng; Cổng ra vào, Đ1 bê tông từ cổng vào sân (hiện nay anh đang quản lý, sử dụng). Nếu ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Anh nại: 01 xe ô tô Huyndai, Biển số C, đăng ký tên Hoàng Danh M (A đang quản lý, sử dụng xe), mua trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của anh vì mua xe ô tô bằng nguồn tiền của anh tự vay ngân hàng và tiền bán xe ô tô cũ của anh có trước khi kết hôn.

Theo bản tự khai ngày 12 tháng 10 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Hoàng Danh M đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y vào ngày 05 tháng 01 năm 2022. Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xẩy ra mâu thuẫn cho tới nay. Nguyên nhân: Do mâu thuẫn nên vợ chồng ly hôn ngày 28/04/2021, sau đó lại về đoàn tụ và đăng ký kết hôn. Về sống với nhau vợ chồng lại tiếp tục mâu thuẫn, xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau nên chị đã bỏ về ngoại sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 03/2023 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Anh M xin ly hôn chị cũng nhất trí và đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung.

  • Hoàng Tuấn Đ, sinh ngày 09/03/2011.
  • Hoàng Thị Hà A, sinh ngày 20/10/2016.
  • Hoàng Ngọc H, sinh ngày 11/11/2018.

Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cháu H, giao anh M nuôi cháu Đ và H. Do còn khó khăn và anh M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Theo đơn phản tố ngày 10/10/2023, tài sản chung của vợ chồng gồm có: 01 xe ô tô Huyndai, Biển số 37C 440.91, đăng ký tên Hoàng Danh M, 20m bờ rào, móng; Cổng ra vào, Đ1 bê tông từ cổng vào sân (Tài sản anh M đang quản lý, sử dụng). Nếu ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật, chia đôi giá trị cho vợ chồng.

Với nội dung trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án Nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83, 84, 59, 33, 43 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147; Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, b khoản 5, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Danh M. Chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị D.

  1. Về Hôn nhân: Chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Danh M và chị Nguyễn Thị D.
  2. Về nuôi con chung: Chấp nhận sự thoả thuận của các đương sự.

    Giao 02 con là Hoàng Tuấn Đ, sinh ngày 09/03/2011 và Hoàng Thị Hà A, sinh ngày 20/10/2016 cho anh Hoàng Danh M tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Đ, H.

    Giao 01 con là Hoàng Ngọc H, sinh ngày 11/11/2018 cho chị Nguyễn Thị D tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên.

    Anh M, chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Anh M, chị D có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con.

  3. Chia tài sản chung:
    • Giao anh Hoàng Danh M được sở hữu các tài sản gồm:
      • Bờ rào dài 19,5m, cao 1,33m giá trị 4.053.000 đồng.
      • Hai trụ cổng và mái cổng, giá trị: 9.751.200 đồng.
      • Cổng bê tông dài 31m, rộng 4m giá trị: 13.720.000 đồng.
      • Móng bờ rào cao 0,6m; rộng 0,3m; dài 19,5m giá trị: 7.029.400 đồng.
      • 01 xe ô tô Huyn đai, Biển số 37C 440.91 giá trị: 338.000.000 đồng.
      • Tổng: 372.553.600 đồng.
    • Anh Hoàng Danh M phải trích tiền chênh lệch tài sản cho chị Nguyễn Thị D là 186.276.800đ ( Một trăm tám mươi sáu triệu, hai trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng). Chị Nguyễn Thị D được nhận 186.276.800đ ( Một trăm tám mươi sáu triệu, hai trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng) tiền tài sản do anh Hoàng Danh M giao.

Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, thi hành án, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành nhận được đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Hoàng Danh M, kháng cáo Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án Nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An với nội dung: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại về tài sản là chiếc xe tải BKS 37C.44091 là tài sản riêng của anh M và không chia khi ly hôn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh M giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Chị Nguyễn Thị D không chấp nhận nội dung kháng cáo của anh M. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn anh Hoàng Danh M kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Hoàng Danh M, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Xét kháng cáo của anh Hoàng Danh M, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo ngày 05/3/2024 của anh Hoàng Danh M làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí. Đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án là đúng quy định pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Hoàng Danh M về phần tài sản chung là xe ô tô tải BKS 37C-440.91:

Theo lời khai của anh M và chị D, chiếc xe tải biển kiểm soát 37C-440.91 được mua trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên anh M cho rằng chiếc xe này không phải là tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản riêng của anh vì anh mua xe bằng nguồn tiền của anh tự vay ngân hàng và tiền bán xe ô tô cũ của anh có trước khi kết hôn. Chị D cho rằng xe ô tô Huyndai mua trong thời kỳ hôn nhân bằng nguồn tiền do vợ chồng kinh doanh buôn bán thịt dê mà có.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Xét tài sản là chiếc xe ô tô Huyndai, biển số 37C – 440.91:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh M và bị đơn chị D đều thống nhất trình bày thời điểm mua chiếc xe oto Huyndai, biển số 37C – 44091, đăng ký mang tên anh M là trong thời kỳ hôn nhân. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh M trình bày quá trình mua xe ô tô, anh và chị D có bàn bạc với nhau về việc mua xe. Tại thời điểm mua xe, quan hệ hôn nhân của hai người đang tốt đẹp nên chiếc xe vẫn được sử dụng chung trong sinh hoạt, kinh doanh buôn bán của gia đình. Anh M có xuất trình các tài liệu là Hợp đồng bán xe ô tô SUZUKI BKS: 37C-281.54 với số tiền 220.000.000 đồng (đây là tài sản riêng của anh M đã được phân chia theo thỏa thuận ly hôn trước đó giữa anh M và chị D). Hợp đồng tín dụng số 3606LAV202202778 ngày 23/3/2022 giữa Ngân hàng N (A1) chi nhánh huyện Y với anh Hoàng Danh M thể hiện anh M vay ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng. Tuy nhiên anh M không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh anh M dùng số tiền đó vào việc mua xe ô tô. Vì vậy, bản án sơ thẩm xác định chiếc xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng là có căn cứ.

- Xét công sức đóng góp vào việc mua xe ô tô Huyndai, biển số 37C – 44091:

Quá trình giải quyết vụ án anh M có cung cấp tài liệu là Hợp đồng mua bán xe ô tô số 27/HĐMB/2022, theo đó, tại Điều 2 của Hợp đồng có ghi rõ:

“2.1 Tổng trị giá Hợp đồng sẽ được bên B tiến hành thanh toán theo từng đợt cụ thể như sau:

  • - Đợt 1: Bên B thanh toán cho bên A số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Số tiền này dùng để đảm bảo cho việc thực hiện nghiêm túc hợp đồng này. Bên B sẽ mất 100% số tiền này nếu tự ý hủy không thực hiện hợp đồng. Hợp đồng này có hiệu lực kể từ khi bên B hoàn tất thanh toán đợt 1.
  • - Đợt 2: Bên B thanh toán tiếp cho bên A số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng chẵn)
  • - Đợt 3: Bên B thanh toán tiếp cho bên A số tiền còn lại là: 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng chẵn)

2.2 Đồng tiền và phương thức thanh toán: Bên mua thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam (VNĐ) bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bên bán theo số tài khoản trong hợp đồng.”

Kem theo là các tài liệu gồm: Phiếu thu ngày 23/4/2022 với nội dung đặt cọc mua xe ô tô số tiền 10.000.000 đồng; sổ phụ của ngân hàng A1 thể hiện sao kê ngày 21/7/2022 anh M chuyển tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản số 41110002666111 của ngân hàng B chi nhánh S (là tài khoản ngân hàng của bên bán xe); chứng từ giao dịch ngày 08/8/2022 thể hiện anh M chuyển số tiền 239.000.000 đồng vào tài khoản số 41110002666111 của ngân hàng B chi nhánh S (là tài khoản ngân hàng của bên bán xe). Tất cả tài liệu thể hiện các lần giao dịch đều là giao dịch thanh toán theo từng đợt như đã ký trong Hợp đồng và việc mua xe ô tô tải Huyndai BKS 37C-440.91 đều do anh M tự giao dịch bằng tài khoản ngân hàng cá nhân đứng tên anh Hoàng Danh M. Bên cạnh đó, anh M còn cung cấp Hợp đồng bán xe ô tô SUZUKI BKS: 37C-281.54 với số tiền 220.000.000 đồng (là tài sản riêng của anh M đã được phân chia theo thỏa thuận ly hôn trước đó giữa anh M và chị D); Hợp đồng tín dụng vay tiền tại Ngân hàng N ngày 23/03/2022, số tiền 200.000.000 đồng. Những tài liệu này làm căn cứ chứng minh nguồn tiền anh Mạnh tự có trong thời kỳ hôn nhân.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh M và chị D đều thống nhất trình bày trong thời kỳ hôn nhân, anh M làm nghề kinh doanh thịt dê còn chị D ở nhà chăm sóc con cái, lo toan nhà cửa, làm ruộng và phụ giúp anh M trong việc kinh doanh buôn bán thịt dê. Mặc dù chị D không chứng minh được mình có góp tiền mua xe cho anh M nhưng chị D có công sức trong việc chăm sóc nuôi dưỡng con chung, cùng phụ giúp, hỗ trợ anh M trong kinh doanh buôn bán thịt dê từ đó kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Anh M là người trực tiếp giao dịch ký hợp đồng mua bán, thanh toán tiền, chi phí để mua xe bằng tài khoản ngân hàng của mình nên anh M có công sức đóng góp lớn hơn trong việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung là chiếc xe ô tô Huyndai, biển số 37C – 44091. Do đó căn cứ công sức tạo lập khối tài sản thấy rằng anh M có công sức lớn hơn so với chị D nên cần xác định anh M có công sức tạo lập khối tài sản bằng 65% giá trị tài sản là chiếc xe ô tô Huyndai, biển số 37C – 44091. Cụ thể: anh M được hưởng giá trị tài sản 65% của 338.000.000 đồng tương đương số tiền 219.700.000 đồng, chị D được hưởng giá trị tài sản 35% của 338.000.000 đồng tương đương số tiền 118.300.000 đồng.

Từ các phân tích trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Hoàng Danh M về phần tài sản chung là chiếc xe ô tô tải Huyndai biển số 37C-440.91, sửa bản án sơ thẩm về phần tài sản chung và phần án phí.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên anh Hoàng Danh M không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Chấp nhận kháng cáo của anh Hoàng Danh M, sửa nội dung quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An về phần chia tài sản chung khi ly hôn và án phí chia tài sản.

Căn cứ vào Điều 59, 33, 43 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Giao anh Hoàng Danh M được sở hữu các tài sản gồm:
    • Bờ rào dài 19,5m, cao 1,33m giá trị 4.053.000 đồng.
    • Hai trụ cổng và mái cổng, giá trị: 9.751.200 đồng.
    • Cổng bê tông dài 31m, rộng 4m giá trị: 13.720.000 đồng.
    • Móng bờ rào cao 0,6m; rộng 0,3m; dài 19,5m giá trị: 7.029.400 đồng.
    • 01 xe ô tô Huyn đai, Biển số 37C 440.91 giá trị: 338.000.000 đồng.
    • Tổng: 372.553.600 đồng.

    - Anh Hoàng Danh M phải trích tiền chênh lệch tài sản cho chị Nguyễn Thị D là 135.576.800 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng). Chị Nguyễn Thị D được nhận 135.576.800 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng) tiền tài sản do anh Hoàng Danh M giao. Tổng giá trị tài sản anh M được nhận là 236.976.800 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng).

  2. Về án phí:
    • - Về án phí sơ thẩm:

      Buộc anh Hoàng Danh M phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) và án phí chia tài sản sơ thẩm là 11.848.840 (Mười một triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001154 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Anh Hoàng Danh M phải nộp tiếp 11.848.840 (Mười một triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi đồng) án phí sơ thẩm.

      Buộc chị Nguyễn Thị D phải chịu tiền án phí chia tài sản sơ thẩm 6.778.840 đồng ( Sáu triệu, bảy trăm bảy mươi tám nghìn, tám trăm bốn mươi đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 7.500.000 đồng (Bảy triệu, năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001215 ngày 10/10/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị D 721.160 đồng (Bảy trăm hai mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi đồng).

    • - Về án phí phúc thẩm: anh Hoàng Danh M không phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại cho anh M số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh M đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002664 ngày 15 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
  3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - TAND, VKSND huyện Yên Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Quốc Sơn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các thẩm phán   Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Anh Sơn Trần Thị Mỹ Hải Trần Quốc Sơn
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp tài sản chung khi ly hôn

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger