Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA H’DRAI

TỈNH KON TUM

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 17/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phú Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rô Man Duyên và bà Hồ Thị Đào.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã I, Toà án nhân dân huyện Ia H'Drai đã đưa ra xét xử sơ thẩm công khai (lưu động) vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 26/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hà Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19/07/1998 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không đi học; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Lữ Thị P, sinh năm 1967. C sống như vợ chồng với chị Phạm Thị T1, sinh năm 1987; Có một con chung là Hà Thị Kim N, sinh năm 2020. Gia đình bị cáo có năm anh chị em, bị cáo là con thứ út trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Đình T2. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 11/11/1980 tại Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn G, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1952 và bà Hồ Thị V, sinh năm 1957; Có vợ (đã ly hôn) là Đinh Thị P1, sinh năm 1982; Có hai con là Nguyễn Đình K, sinh năm 2003 và Nguyễn Đình T3, sinh năm 2006; Gia đình bị cáo có bốn anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
  3. Phạm Thị L; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20/02/1988 tại Bình Định Nơi ĐKHKTT: Thôn F, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum. Nơi tạm trú: Thôn A, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Hồ Thị V, sinh năm: 1957 và ông (chưa xác định); Có chồng là Nguyễn Đình H1, sinh năm 1971; Có hai con chung là Nguyễn Thiện N1, sinh năm 2012 và Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 2021. Có con riêng là Phạm Thị L1, sinh năm 2003; Gia đình bị cáo có bốn anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình K, sinh năm 2003. Nơi cư trú: Thôn G, xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 08/2023 Hà Văn T; SN: 19/7/1998, trú tại: Thôn H - xã I, huyện I - tỉnh Kon Tum gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực sông S thuộc biên giới Việt Nam - CamPuChia thuộc địa phận thôn H - xã I - I - tỉnh Kon Tum và mua 05 hộp pháo hoa nổ với giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng). Thoại mang 05 hộp pháo này về cất giấu tại chuồng bò nhà mình với mục đích bán lại kiếm tiền lời. Khoảng 08 giờ ngày 10/01/2024 T gọi điện cho Nguyễn Đình T2; SN: 11/11/ 1980, trú tại thôn G - xã I - huyện I - tỉnh Kon Tum đặt vấn đề muốn bán 05 hộp pháo trên với giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng). T2 đồng ý mua và hẹn ngày 11/01/2024 gặp T tại quán C2 thuộc Thôn G - xã I uống cà phê và đưa trước cho T 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng), còn 1.000.000đ (một triệu đồng) khi nào nhận pháo T2 sẽ trả sau.

Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 11/01/2024 T2T đến quán C2 như đã hẹn, tại đây T2 đưa cho T 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng), sau đó T2 đi vào xã I, còn T đi về nhà. Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 12/01/2024 T gọi điện nói T2 đến nhà lấy pháo. Tuy nhiên T2 nói đang có việc nên nhờ Phạm Thị L; SN: 20/02/1988, tạm trú: Thôn A - xã I - huyện I - tỉnh Kon Tum đến lấy pháo. Lúc này T2 gọi điện cho L và chỉ nói qua nhà T lấy 05 hộp pháo đem về nhà cất để chơi Tết, nghe vậy L đồng ý. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, L điều khiển xe máy biển kiểm soát (BKS): 77F9 - 4765 đến nhà T lấy pháo cho T2. Đến nơi L gặp T và lấy một bao tải màu đỏ, bên trong có 05 hộp pháo sau đó bỏ lên xe và chở về nhà T2. Đến nhà T2, mặc dù không được dặn dò về địa điểm cất giấu pháo nhưng L đã tự mang bao pháo vào thẳng trong buồng ngủ của T2 và để ở đuôi giường ngủ. Sau khi xong việc, L gặp Nguyễn Đình K; SN: 2003 (là con trai của T2) dặn dò đừng cho ai vào phòng, đồng thời L gọi điện thông báo cho T2 biết việc mình đã lấy pháo, cất giấu.

Ngay khi L rời đi, K đi vào phòng ngủ của T2 thì phát hiện có một bao tải màu đỏ lạ nên đã đẩy bao tải này xuống gầm giường và đi ra ngoài. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày Công an xã I nhận được tin báo của quần chúng nhân dân nên đến nhà T2 kiểm tra, xác minh. Quá trình xác minh K đã tự nguyện giao nộp số pháo trên. Công an xã I đã lập biên bản, thu giữ, niêm phong tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật. Vụ việc sau đó được Cơ quan CSĐT Công an huyện I thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền. Tại Bản kết luận giám định số: 154/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh G xác định: 05 hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu, in chữ nước ngoài và chữ “CHONG KOL - C0834” bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ tròn có dây nối liên kết với nhau đựng trong 01 bao xác rắn màu vàng chuyển đến giám định đều là: Pháo hoa nổ, tổng khối lượng 6,8kg.

Ngày 18/03/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện I đã ra Quyết định khởi tố vụ án về tội “Buôn bán hàng cấm” theo Điều 190 BLHS và tội “Tàng trữ hàng cấm” theo Điều 191 BLHS. Tại Cơ quan điều tra Hà Văn T, Nguyễn Đình T2, Phạm Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS-Ia H'Drai ngày 25 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Đình T2Phạm Thị L về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 12 tháng đến 16 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 24 tháng đến 32 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Thị L từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bao xác rắn màu vàng, miệng bao được niêm phong bằng một tờ giấy có 03 dấu tròn màu đỏ của “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN HUYỆN IA H’DRAI” và các chữ ký, họ tên Nguyễn Đình C1, Lò Văn K1, Đinh Quốc H2, Phạm Việt H3, Hà Văn T, Nguyễn Đình T2. Bên trong có chứa 04 hộp giấy, bên ngoài mỗi hộp dán giấy màu, hoa văn sặc sỡ, in chữ nước ngoài và ký hiệu C0834; 01 bì nilon màu đen và 01 bao xác rắn mà đỏ. Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 14 giờ 30 phút ngày 04 tháng 03 năm 2024 tại Công an huyện I, tỉnh Kon Tum.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng, nhãn hiệu NOKIA. Không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 điện thoại di động màu xanh, dạng cảm ứng đã qua sử dụng, nhãn hiệu VIVO, màn hình bị nứt, vỡ một số góc. Không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 xe mô tô BKS: 77F9 - 4765 màu nâu, đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, chủng loại. Xe độ chế, đã bị mất, hư hỏng một số bộ phận. Không kiểm tra tình trạng bên trong xe; 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng, nhãn hiệu NOKIA. Không kiểm tra tình trạng bên trong.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000đ đồng do phạm tội mà có của bị cáo Hà Văn T. Ngoài ra các bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không ý kiến tranh luận gì. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều không bị mớm cung, ép cung hay dùng nhục hình buộc phải nhận tội.

Lời khai của người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa đúng với những gì đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện I.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo Hà Văn T: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, gia đình bị cáo khó khăn, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Đình T2: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Phạm Thị L: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện I, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên huyện I trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 12/01/2024 bị cáo Hà Văn T đã gọi điện cho bị cáo Nguyễn Đình T2 đến nhà lấy pháo sau khi cả hai đã thống nhất việc mua bán 05 (hộp) pháo hoa nổ của T với giá 2.500.000đ trước đó. Tuy nhiên, do bận công việc nên bị cáo T2 đã gọi điện và nhờ bị cáo Phạm Thị L đến gặp T để lấy pháo. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, L đã đến nhà gặp và lấy pháo từ T sau đó bỏ lên xe máy BKS 77F9 - 4765 và chở về cất giấu tại đuôi giường trong phòng ngủ của T2. Sau khi cất giấu xong, bị cáo L ra dặn dò Nguyễn Đình K không được cho ai vào phòng nhằm tránh bị phát hiện rồi sau đó điện thoại thông báo cho bị cáo T2 về việc đã lấy pháo và cất giấu xong. Vụ việc sau đó bị phát hiện, ngăn chặn và thu giữ toàn bộ tang vật cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan. Tổng số pháo đã thu giữ tại nhà Nguyễn Đình T2 theo kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh G đều là pháo hoa nổ, có tổng khối lượng là 6,8 kg.

Như vậy, tổng hợp hành vi và hậu quả, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi bán 6,8 kg pháo hoa nổ cho Nguyễn Đình T2 để lấy tiền tiêu xài cá nhân của Hà Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS. Hành vi tàng trữ 6,8 kg pháo hoa nổ nhằm mục đích sử dụng của Nguyễn Đình T2Phạm Thị L đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS như Cáo trạng số 12/CT-VKS-Ia H'Drai, ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia H'Drai, tỉnh Kon Tum truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra để giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết là lao động chính trong gia đình theo khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều có gia đình; bị cáo T chung sống như vợ chồng với chị Phạm Thị T1, đang trong độ tuổi lao động được; bị cáo T2 có các con đã trên 18 tuổi, đủ khả năng lao động; đối với bị cáo L có chồng là Nguyễn Đình H1, dù trong thời gian ly thân nhưng vẫn tồn tại hôn nhân hợp pháp, đủ khả năng lao động. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “là lao động chính” theo khoản 2 Điều 51 BLHS là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS; riêng bị cáo Nguyễn Đình T2Phạm Thị L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Hà Văn T đã tự nguyện nộp lại số tiền do phạm tội mà có là 1.500.000đ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, cần xem xét áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét các bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này ra, luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo T) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo hướng dẫn tại văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 Nghị quyết Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các bị cáo đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát trong thời gian chấp hành án vẫn bảo đảm khả năng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo, cũng như phòng ngừa chung, mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

  1. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo đều không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  2. Ngoài ra, trong vụ án có Nguyễn Đình K, là người có mặt ở nhà T2 khi L đem pháo đến cất giấu nhưng bản thân K hoàn toàn không biết và không liên quan đến hành vi của các bị cáo nên việc Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là có căn cứ.
  3. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo T khai nhận đã mua số pháo để về bán kiếm lời với giá 1.500.000₫ của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan CSĐT đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh, khi xác định được đối tượng sẽ xem xét xử lý sau.
  4. Về xử lý vật chứng: 01 (một) bao xác rắn màu vàng, miệng bao được niêm phong bằng một tờ giấy có 03 dấu tròn màu đỏ của “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN HUYỆN IA H’DRAI” và các chữ ký, họ tên Nguyễn Đình C1, Lò Văn K1, Đinh Quốc H2, Phạm Việt H3, Hà Văn T, Nguyễn Đình T2. Bên trong có chứa 04 hộp giấy, bên ngoài mỗi hộp dán giấy màu, hoa văn sặc sỡ, in chữ nước ngoài và ký hiệu C0834; 01 bì nilon màu đen và 01 bao xác rắn mà đỏ. Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 14 giờ 30 phút ngày 04 tháng 03 năm 2024 tại Công an huyện I, tỉnh Kon Tum. Các vật chứng nêu trên là vật cấm lưu hành (hàng cấm), vật đựng chất cấm lưu hành không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng, nhãn hiệu NOKIA. Không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 điện thoại di động màu xanh, dạng cảm ứng đã qua sử dụng, nhãn hiệu VIVO, màn hình bị nứt, vỡ một số góc. Không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 xe mô tô BKS: 77F9 - 4765 màu nâu, đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, chủng loại. Xe độ chế, đã bị mất, hư hỏng một số bộ phận. Không kiểm tra tình trạng bên trong xe; 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng, nhãn hiệu NOKIA. Không kiểm tra tình trạng bên trong. Đây là các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc trong quá trình mua bán, tàng trữ pháo, vận chuyển pháo về nhà cất giấu, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước là có căn cứ.

Đối với số tiền 1.500.000đ có được do bị cáo Hà Văn T bán pháo cho T2: Bị cáo đã nộp lại số tiền 1.500.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia H'Drai, theo biên lai thu tiền số 0001855 ngày 19/6/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện I. Đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách là phù hợp.

  1. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, bị cáo Nguyễn Đình T2Phạm Thị L phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 13 (Mười ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 26 (Hai mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thâm (17/7/2024).

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T2 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/7/2024).

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị L 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/7/2024).

Giao các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Đình T2Phạm Thị L cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bao xác rắn màu vàng, miệng bao được niêm phong bằng một tờ giấy có 03 dấu tròn màu đỏ của “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN HUYỆN IA H’DRAI” và các chữ ký, họ tên Nguyễn Đình C1, Lò Văn K1, Đinh Quốc H2, Phạm Việt H3, Hà Văn T, Nguyễn Đình T2. Bên trong có chứa 04 hộp giấy, bên ngoài mỗi hộp dán giấy màu, hoa văn sặc sỡ, in chữ nước ngoài và ký hiệu C0834; 01 bì nilon màu đen và 01 bao xác rắn mà đỏ. (Theo Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 14 giờ 30 phút ngày 04 tháng 03 năm 2024 tại Công an huyện I, tỉnh Kon Tum).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng, nhãn hiệu NOKIA. Không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 điện thoại di động màu xanh, dạng cảm ứng đã qua sử dụng, nhãn hiệu VIVO, màn hình bị nứt, vỡ một số góc. Không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 xe mô tô BKS: 77F9 - 4765 màu nâu, đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, chủng loại. Xe độ chế, đã bị mất, hư hỏng một số bộ phận. Không kiểm tra tình trạng bên trong xe; 01 điện thoại di động màu đen, loại bàn phím bấm đã qua sử dụng, nhãn hiệu NOKIA. Không kiểm tra tình trạng bên trong.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 của Công an huyện I với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia H'Drai).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) đồng theo biên lai thu tiền số 0001855 ngày 19/6/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện I.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Đình T2, Phạm Thị L mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/7/2024) các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án để xin xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Ia H'Drai;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - CCTHA DS huyện Ia H'Drai;
  • - Công an huyện Ia H'Drai;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - TAND cấp cao tại Đà nẵng;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra - TANDTC;
  • - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phú Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM về hình sự (buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA H’DRAI TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Thoại buôn bán hàng cấm, Nguyễn Đình Toà và Phạm Thị Lan tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger