Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 17 – 04 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiến và ông Bùi Trọng Vũ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 04 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T

(tên gọi khác: không), sinh ngày 06/10/1995 tại thị xã S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm biển; nơi cư trú: Khu phố C, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; số CCCD: [...], cấp ngày 29/09/2022, nơi cấp: Cục C1 về TTXH – Bộ C2; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần L, sinh năm 1967 và bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1968; vợ Phạm Thị M, sinh năm 1999; con ruột 01 người sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995; Địa chỉ: Khu phố M, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
  2. Bà Phan Thị D, sinh năm 1998; Địa chỉ: Khu phố M, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
  3. Ông Phạm Ngọc T3, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố K, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.
  4. Bà Võ Thị Hoàng P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố K, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị R, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu phố T, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 08/7/2023, Trần Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát số 61H1-295.23 đến chơi bóng chuyền tại sân bóng chuyền thuộc khu phố C, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Quá trình chơi bóng chuyền T đi vệ sinh thì phát hiện thấy xe mô tô nhãn hiệu Exciter 135, biển kiểm soát số 78D1-192.68 của ông Nguyễn Văn T2 đang dựng ở khu vực sân bóng chuyền, trên xe còn gắn chìa khoá tại ổ. Do đó, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đến vị trí xe mô tô này mở cốp, phát hiện bên trong có 01 ví đựng tiền, T đã lấy trộm rồi cất giấu vào trong cốp xe biển kiểm soát 61H1-295.23 của mình rồi quay lại tiếp tục chơi bóng chuyền. Đến tối khi về nhà, T mở ra kiểm tra phát hiện bên trong có chứa số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) tiền mặt nhiều mệnh giá khác nhau; một số tờ tiền nước ngoài có mệnh giá khác nhau, gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 100 CAD (tiền giấy nước Canada), 01 tờ tiền mệnh giá 100 Riel (tiền giấy nước Campuchia), 01 tờ tiền mệnh giá 1 Ringgit (tiền giấy nước Malaysia), 02 tờ tiền mệnh giá 1 và 5 Nhân dân tệ (tiền giấy nước Trung Quốc), 02 tờ tiền mệnh giá 1 và 2 USD M1 (tiền dollar Mỹ), 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] cấp ngày 11/10/2013; 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 31/05/2010; một chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007829 cấp ngày 07/11/2016 đối với xe mô tô biển số 78D1-192.68 của ông Nguyễn Văn T2. Sau đó, T dùng toàn bộ số tiền 3.800.000 (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) và bán tờ tiền 100 CAD (tiền giấy nước Canada) tại cửa hàng “Tiến Viễn” được 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) vào mục đích tiêu xài cá nhân. Đối với các tờ tiền nước ngoài còn lại và những giấy tờ khác T cất giữ trong ví của mình.

Đến ngày 27/8/2023 thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S phát hiện tạm giữ sau khi T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 78F6-2190 (nhãn hiệu DAYANG, dung tích xi lanh 97cm3, số máy 150FM7001189, số khung: DY100D7001189, đăng ký lần đầu vào năm 2001) của ông Phạm Ngọc T3 vào ngày 26/08/2023 tại khu vực sân bóng đá thuộc thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên và bán cho bà Lê Thị R được số tiền 700. 000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng), sử dụng tiêu xài cá nhân hết số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng), số tiền còn lại là 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Lê Thị R không biết nguồn gốc xe do phạm tội mà có. Ngày 27/08/2023 qua nguồn tin tố giác tội phạm, Trần Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S tạm giữ, qua làm việc T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 08/7/2023 và 26/8/2023.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐG ngày 29/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Tài sản theo yêu cầu định giá tài sản số 48/YC-CQĐT ngày 11/09/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 78F6-2190 đã qua sử dụng, nhãn hiệu “DAYANG”, dung tích xi lanh 97cm3, sơn màu Nâu, số khung: DY100D7001189, số máy: 150FM7001189, đăng ký lần đầu năm 2001, tại thời điểm định giá ngày 26/08/2023, có giá trị theo giá thị trường là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 19/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S kết luận: Yêu cầu định giá tài sản số 70/YC-ĐTTH ngày 28/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S tại thời điểm ngày 08/07/2023 tài sản bị trộm có tổng giá trị: 1.867.414 đồng (Một triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm mười bốn đồng), trong đó gồm:

  • + 100 Riel: 600 VNĐ.
  • + 01 R: 5.132 VNĐ.
  • + 01 Y: 3.320 VNĐ.
  • + 05 Y: 16.600 VNĐ.
  • + 01 USD: 23.722 VNĐ.
  • + 02 USD: 47.440 VND.
  • + 100 CAD: 1.770.600 VNĐ.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt (có ông ngoại Đỗ C là Liệt sĩ), bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, có 01 (một) con nhỏ mới sinh vào ngày 27/01/2024.

Vật chứng vụ án:

  • 01 xe mô tô biển kiểm soát 78F6-2190 đã trả cho bị hại Phạm Ngọc T3.
  • 01 tờ tiền mệnh giá 100 Riel (tiền giấy nước Campuchia), 01 tờ tiền mệnh giá 1 Ringgit (tiền giấy nước Malaysia), 02 tờ tiền mệnh giá 1 và 5 Nhân dân tệ (tiền giấy nước Trung Quốc), 02 tờ tiền mệnh giá 1 và 2 USD M1 (tiền dollar Mỹ), 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] cấp ngày 11/10/2013; 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 31/05/2010; một chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007829 cấp ngày 07/11/2016 đối với xe mô tô biển số 78D1-192.68 đã trả cho bị hại Nguyễn Văn T2.
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera an ninh tại nhà bà Lê Thị R.

Tạm giữ 01 mũ bảo hiểm màu xanh, trên mũ có viền trắng, phía trước mũ có dòng chữ đỏ “hotline”: “18006979”, phía sau mũ có dòng chữ màu đỏ “DUNG TIEN GROUP”; 01 áo khoát vải dài tay có mũ màu xám của bị cáo Trần Văn T.

Phần dân sự:

Bị cáo Trần Văn T đã bồi thường cho người bị hại Phạm Ngọc T3 và Võ Thị Hoàng P số tiền 700.000 đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T2 và Phan Thị D số tiền 5.500.000 đồng và đã được các bị hại bãi nại về dân sự, không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì khác.

Cáo trạng số 16/CT-VKSSC ngày 30/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Văn T đã khai nhận tội như lời khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại Cáo trạng số 16/CT-VKSSC ngày 30/03/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo Trần Văn T không có nghề nghiệp ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trần Văn T đã bồi thường cho người bị hại Phạm Ngọc T3 và Võ Thị Hoàng P số tiền 700.000 đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T2 và Phan Thị D số tiền 5.500.000 đồng và đã được các bị hại bãi nại về dân sự, không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì khác.

Về vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX:

  • Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 78F6-2190; 01 tờ tiền mệnh giá 100 Riel (tiền giấy nước Campuchia), 01 tờ tiền mệnh giá 1 Ringgit (tiền giấy nước Malaysia), 02 tờ tiền mệnh giá 1 và 5 Nhân dân tệ (tiền giấy nước Trung Quốc), 02 tờ tiền mệnh giá 1 và 2 USD M1 (tiền dollar Mỹ), 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] cấp ngày 11/10/2013; 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 31/05/2010; một chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 007829 cấp ngày 07/11/2016 đối với xe mô tô biển số 78D1-192.68 đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp, nên đề nghị HĐXX không xét.
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera an ninh tại nhà bà Lê Thị R.
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 mũ bảo hiểm màu xanh, trên mũ có viền trắng, phía trước mũ có dòng chữ đỏ “hotline”: “18006979”, phía sau mũ có dòng chữ màu đỏ “DUNG TIEN GROUP” và huỷ 01 áo khoát vải dài tay có mũ màu xám của bị cáo Trần Văn T vì không còn giá trị sử dụng.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo nói lời nói sau cùng:

Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo quay về chăm lo cho vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3] Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 08/7/2023 và ngày 26/8/2023 tại khu phố C, phường X và thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Trần Văn T có hành vi trộm cắp số tiền 3.800.000 đồng và tiền nước ngoài trị giá 1.867.414 đồng của vợ chồng anh Nguyễn Văn T2, chị Phan Thị D; 01 xe mô tô biển kiểm soát 78F6-2190 của vợ chồng ông Phạm Ngọc T3, bà Võ Thị Hoàng P trị giá 1.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Trần Văn T đã chiếm đoạt là 7.167.414 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 16/CT-VKSSC ngày 30/03/2024 của VKSND thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan gì cho bị cáo.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, vì nợ tiền nhiều người trong cuộc sống nên đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người khác để trộm cắp tài sản.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

Bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, được các bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt (có ông ngoại Đỗ C là Liệt sĩ), bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, có 01 (một) con nhỏ mới sinh vào ngày 27/01/2024. Do đó, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn T đã bồi thường cho người bị hại Phạm Ngọc T3 và Võ Thị Hoàng P số tiền 700.000 đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T2 và Phan Thị D số tiền 5.500.000 đồng và đã được các bị hại bãi nại về dân sự, không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì khác.

[7] Về vật chứng:

  • Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera an ninh tại nhà bà Lê Thị R.
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 mũ bảo hiểm màu xanh, trên mũ có viền trắng, phía trước mũ có dòng chữ đỏ “hotline”: “18006979”, phía sau mũ có dòng chữ màu đỏ “DŨNG TIEN GROUP".
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoát vải dài tay có mũ màu xám.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  4. Về dân sự: Bị cáo Trần Văn T đã bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng), được các bị hại bãi nại về dân sự, không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.
  5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera an ninh tại nhà bà Lê Thị R.
    • Tịch thu tiêu huỷ 01 mũ bảo hiểm màu xanh, trên mũ có viền trắng, phía trước mũ có dòng chữ đỏ “hotline”: “18006979”, phía sau mũ có dòng chữ màu đỏ “DUNG TIEN GROUP".
    • Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoát vải dài tay có mũ màu xám.
  6. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TX.Sông Cầu;
  • - CSĐT Công an TX. Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS TX. Sông Cầu;
  • - CQ THA HS TX. Sông Cầu;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Văn Tôn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger