TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST Ngày 17/4/2024 V/v ly hôn. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Phương Dung;
- Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 115/2023/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1950; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1964; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hoà giải, nguyên đơn ông Nguyễn Đức H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Thị X tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương vào ngày 07/12/2021. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn: Hai vợ chồng thường bất đồng quan điểm và hay cãi nhau, không hợp nhau. Tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không còn hàn gắn được nữa. Hiện tại, ông và bà X không còn chung sống với nhau, cuộc sống hai vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài. Vì vậy, ông quyết định ly hôn với bà Trần Thị X.
Về con chung: Ông và bà Trần Thị X không có con chung, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn ông Nguyễn Đức H có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Trong bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hoà giải, bị đơn bà Trần Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà thống nhất với lời khai của ông Nguyễn Đức H về thời gian sống chung, kết hôn. Bà nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, cuộc sống hai vợ chồng không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn. Với yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Đức H, bà X đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Bà và ông Nguyễn Đức H không có con chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà không có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn ông Nguyễn Đức H.
Bị đơn bà Trần Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục và thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đức H và bà Trần Thị X chung sống với nhau có đăng ký kết hôn nên hôn nhân giữa ông H và bà X là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu được ly hôn, bị đơn bà X đồng ý ly hôn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung: Bà X và ông H không có con chung, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện Kiểm sát không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện Kiểm sát không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H về việc ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; hiện bị đơn bà Trần Thị X đang thường trú tại xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn ông Nguyễn Đức H có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức H, bị đơn bà Trần Thị X có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật. Do vậy, Toà án căn cứ vào các Điều 5, 6, 91, 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức H và bị đơn bà Trần Thị X chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn.
[4] Theo Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P ngày 31 tháng 5 năm 2023 thì bà X và ông H chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương. Nguyên nhân phát sinh của việc tranh chấp ly hôn giữa bà X và ông H thì chính quyền địa phương không nắm rõ, do đương sự giải quyết nội bộ, cũng không trình báo sự việc hay đề nghị chính quyền địa phương can thiệp giải quyết. Hiện tại, ông H và bà X đã sống ly thân.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ông H và bà X đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H được ly hôn với bị đơn bà Trần Thị X theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[6] Về con chung: Bà X và ông H không có con chung, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 5, Điều 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H đối với bị đơn bà Trần Thị X về việc “Ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đức H được ly hôn với bà Trần Thị X.
- Về con chung: Ông H và bà X không có con chung, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Ông Nguyễn Đức H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do ông Nguyễn Đức H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0005163 ngày 20 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Lâm |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ Nguyễn Đức H - BĐ Trần Thị X về việc Ly hôn
