Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

Bản án số:14/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16/8/2024

“V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đỗ .

Ông Hà Quốc Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 03 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:28/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 07 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST - HNGĐ tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Khu G, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Cù Ngọc C, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Khu G, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh H, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, chức vụ: Phó giám đốc. (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2024)

(Chị T, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, nguyên đơn là chị Bùi Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Cù Ngọc C có đăng ký kết hôn ngày 25/10/2010 tại UBND xã V (này là UBND xã V), huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường đến cuối năm 2023 thì phát dinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do do anh C chơi bời, không quan tâm đến gia đình, vì vậy vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Hai vợ chồng hiện đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh C

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T xác định vợ chồng có 03 con chung: Cháu Cù Thị Trang A, sinh ngày 16/01/2012; Cháu Cù Ngọc V, sinh ngày 18/3/2014 và cháu Cù Hải N1, sinh ngày 6/7/2016. Hiện nay cả 03 con chung đang ở với chị T. Khi ly hôn, chị T xin trực tiếp được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 03 con chung và tự nguyện không yêu cầu anh C đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị T xác định: Chị và anh Cù Ngọc C có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng xã hội huyện T vào ngày 7/8/2019 vay chương trình hộ cận nghèo, thời hạn vay đến ngày 19/6/2024 với tổng số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), lãi xuất 7,92%/năm. Đến ngày 12/6/2024 vợ chồng chị vẫn còn nợ số tiền gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), lãi là 260.384 đồng. Tổng cộng là: 50.260.384đ (Năm mươi triệu hai trăm sáu mươi nghìn, ba trăm tám mươi tư đồng) và lãi phát sinh đến thời điểm hiện tại. Nay vợ chồng chị ly hôn do anh C chơi bời không có khả năng trả nợ nên chị T xin nhận toàn bộ nợ đối với Phòng giao dịch Ngân hàng xã hội huyện T. Hiện nay chị T đã được Phòng giao dịch Ngân hàng xã hội huyện T gia hạn nợ đến ngày 19/6/2026. Chị T được Ngân hàng hướng dẫn và cam kết sẽ một mình ký nhận nợ với Ngân hàng để trả số tiền trên, khoản nợ này không liên quan đến anh Cù Ngọc C nữa. Các thủ tục ký nhận nợ chị T sẽ thực hiện đầy đủ với Ngân hàng xã hội huyện T để trả nợ số tiền gốc 50.000.000đ và lãi phát sinh theo từng thời điểm.

Về công sức đóng góp gia đình: Chị T xác định chị và anh C không có không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Cù Ngọc C: Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành các trình tự, thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã báo gọi

2

anh C đến Tòa án nhiều lần nhưng anh C bận công việc và cũng cố tình trốn tránh không đến Tòa để làm việc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Tuyết N là đại diện theo ủy quyền của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có quan điểm lưu trong hồ sơ như sau:

Chị Bùi Thị T và anh Cù Ngọc C có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, cụ thể như sau: Ngày 7/8/2019 vay chương trình hộ cận nghèo đến ngày 12/6/2024, anh chị Thông Chúc còn nợ Phòng giao dịch số tiền là: 50.260.384 đồng. Đến ngày 19/6/2024 anh chị Thông Chúc đã được Phòng giao dịch cho gia hạn nợ số tiền gốc là 50.000.000₫ đến ngày 19/6/2026. Nay chị T và anh C ly hôn, chị T tự nguyện nhận nợ toàn bộ khoản nợ gốc và lãi đến ngày 12/6/2024 là 50.260.384 đ và lãi phát sinh sau đó thì Phòng giao dịch Ngân hàng xã hội huyện T hoàn toàn nhất trí với chị T. Ngân hàng sẽ làm việc với chị T để ký kết các thủ tục nhận nợ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự thủ tục tố tụng:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Cù Ngọc C là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. Bị đơn có nơi cư trú tại khu G, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Tam Nông thụ lý và xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.
  3. Nguyên đơn chị Bùi Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà N là đại diện theo ủy quyền của Phòng giao dịch Ngân hàng xã hội huyện T có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh C nhưng anh C không đến Tòa án làm việc nên Tòa án đã tống đạt các văn bản, thủ tục tố tụng cho bố đẻ anh C là ông Cù Văn L đang ở cùng, ông L cam kết chuyển đến anh C đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án và xác nhận anh C đã biết và đồng ý quan điểm của chị T, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

3

Anh C đã được Tòa án tống đạt quyết định xét xử hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Như vậy, là anh C cố tình không hợp tác, việc anh C cố tình trốn tránh không đến Tòa có nghĩa là anh C từ chối quyền được trình bày tại tòa và không thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, bà N, anh C là phù hợp.

[4] Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về nội dung:

- Xét về quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị T và anh Cù Ngọc C là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là xã V), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau hạnh phúc bình thường đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Đồng thời qua xác minh tại chính quyền địa phương thấy rằng cuộc sống chung của chị T và anh C có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh C mải chơi, không giúp đỡ vợ con, vợ chồng hay cãi chửi nhau, hai vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 12 năm 2023, không ai quan tâm đến ai, gia đình hai bên có khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Anh C sáng đi tối về nhà tại khu G, xã V, huyện T, Phú Thọ. Anh C đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Xét thấy cuộc sống chung của chị T và anh C không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị T được ly hôn với anh C là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

Chị Bùi Thị T và anh Cù Ngọc C có 03 con chung là cháu Cù Thị Trang A, sinh ngày 16/01/2012; Cháu Cù Ngọc V, sinh ngày 18/3/2014 và cháu Cù Hải N1, sinh ngày 6/7/2016. Hiện nay cả ba con chung đang ở với chị T. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh Cù Ngọc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án, nhưng qua lời khai ông Cù Văn L là bố đẻ anh Cù Ngọc C thấy rằng anh Cù Ngọc C nợ nần, chơi bời, không có trách nhiệm với con cái. Vì vậy anh C không có khả năng nuôi con chung. Về phía chị T là mẹ và có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 con chung. Chị T đã tự mình chăm sóc nuôi dưỡng các con chung từ khi ly thân với anh C. Anh C không quan tâm đến con cái, không thường xuyên và không trực tiếp quan tâm chăm sóc con chung được. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao cả 03 con chung cho chị T là mẹ, cháu N1 còn nhỏ, cháu V, cháu Trang A là con gái là tốt cho sự phát triển tâm sinh lý và đảm bảo quyền lợi cho các cháu theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp. Chị T không yêu

4

cầu anh Cù Ngọc C cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận.

[3] Về tài sản chung:

Chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về công nợ chung:

- Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Cù Ngọc C cố tình trốn tránh không đến Tòa án để làm việc, không ghi nhận được quan điểm của anh C về công nợ chung, nhưng qua các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được, lời khai của chị Bùi Thị T và bà Nguyễn Thị Tuyết N2 đại diện theo quy ủy của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T xác định: Chị Bùi Thị T và anh Cù Ngọc C có vay vốn tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T vay chương trình hộ cận nghèo. Tính đến ngày 12/6/2024, anh chị Thông Chúc còn nợ Phòng giao dịch số tiền là: 50.260.384 đồng. Đến ngày 19/6/2024 anh chị Thông Chúc đã được Phòng giao dịch cho gia hạn nợ số tiền gốc là 50.000.000đ đến ngày 19/6/2026. Nay chị T và anh C ly hôn, chị T tự nguyện nhận nợ toàn bộ khoản nợ gốc và lãi đến ngày 12/6/2024 là 50.260.384 đ và lãi phát sinh sau đó. Phòng giao dịch hoàn toàn nhất trí với quan điểm của chị T nên Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Bùi Thị T và tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T là phù hợp.

[5]. Về công sức đóng góp: Chị T xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí: Theo danh sách sổ quản lý hộ và nhân khẩu cận nghèo năm 2023 của Ban giảm nghèo xã V, chị Bùi Thị T là hộ cận nghèo, năm 2024 chị T vẫn thuộc hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại các Điều 195, 196, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,71, 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Căn cứ điều 51, điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật HNGĐ năm 2014

5

Căn cứ khoản 4 điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Cù Ngọc C.

2.Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Cù Thị Trang A, sinh ngày 16/01/2012; Cháu Cù Ngọc V, sinh ngày 18/3/2014 và cháu Cù Hải N1, sinh ngày 6/7/2016 cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Cù Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T do chị T tự nguyện không yêu cầu.

3.Về vấn đề tài sản chung, công sức đóng góp gia đình: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4.Về công nợ chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Bùi Thị T và Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Tuyết N2 như sau:

Chị Bùi Thị T phải trả cho Phòng G huyện T, số tiền gốc là 50.000.000₫ và lãi phát sinh. Thời hạn trả nợ là ngày 19/6/2026. (Phòng giao dịch Ngân hàng xã hội huyện T và chị Bùi Thị T ký kết với nhau các thủ tục vay vốn theo chương trình cho vay Hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật ).

Về án phí: Chị Bùi Thị T được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho chị Bùi Thị T tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ sổ vay vốn lập ngày 7/8/2019 và thông báo kết quả phê duyệt gia hạn nợ ngày 19/6/2024 của Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Cù Ngọc C.

2.Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Cù Thị Trang A, sinh ngày 16/01/2012; Cháu Cù Ngọc V, sinh ngày 18/3/2014 và cháu Cù Hải N1, sinh ngày 6/7/2016 cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo

6

dục. Anh Cù Ngọc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T do chị T tự nguyên không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3.Về công nợ chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị Bùi Thị T và Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Tuyết N2 như sau:

Chị Bùi Thị T phải trả cho Phòng G huyện T, số tiền gốc là 50.000.000₫ và lãi phát sinh. Thời hạn trả nợ là ngày 19/6/2026. (Phòng giao dịch Ngân hàng xã hội huyện T và chị Bùi Thị T ký kết với nhau các thủ tục vay vốn theo chương trình cho vay Hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật ).

4.Về tài sản chung, công sức đóng góp gia đình: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét đặt ra xem xét, giải quyết.

5.Về án phí: Chị Bùi Thị T được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho chị Bùi Thị Thông s tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003397 ngày 8/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

- Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T và anh Cù Ngọc C vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho chị T và anh C hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Vạn Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thơm

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị T xin ly hôn anh Cù Ngọc C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger