|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2024/KDTM-ST
Ngày: 16/7/2024
V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Hứng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12, 16 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 28/2024/TLST-KDTM ngày 21 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 429/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV T1.
Trụ sở: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc V – Phó Giám đốc (Có mặt).
Địa chỉ: Số F, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo giấy ủy quyền số 05/UQ-DKHG ngày 15/5/2023).
- Bị đơn: Công ty TNHH N.
Trụ sở: Số B, đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Hữu T, sinh năm 2001 (Có mặt).
Địa chỉ: Số H, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ (Theo Văn bản ủy quyền ngày 05/6/2024).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Ngọc V trình bày:
Ngày 31/7/2012, Công ty TNHH MTV T1 (gọi tắt Công ty Tl) và Công ty TNHH N (gọi tắt Công ty N) ký Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 03/2017/HĐNT-DKHG với nội dung như sau: Công ty N đồng ý mua xăng dầu do Công ty T1 cung cấp, cụ thể gồm: Xăng Ron 95-III; xăng E; Dầu Do 0.05S; Dầu Do 0.005S; D (dầu hỏa). Số lượng, chủng loại hàng hóa xăng dầu theo kế hoạch, thông báo và đơn đặt hàng cụ thể của Công ty N gửi trước cho Công ty T1. Công ty N có trách nhiệm thanh toán bằng cách chuyển khoản trước khi nhận hàng, giá từng lô hàng sẽ tùy theo đơn đặt từng thời điểm và thời hạn hợp đồng đến hết ngày 31/12/2020.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã cung cấp xăng cho Công ty N đầy đủ theo đúng số lượng, chất lượng và thời hạn đã thỏa thuận theo Hợp đồng nguyên tắc mua bán xăng dầu số 03/2017/HĐNT-DKHG ngày 31/12/2017 nhưng phía Công ty N đã thực hiện không đúng các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, không trả tiền hàng tháng.
Ngày 01/6/2020, Công ty T1 đã gửi Thông báo số 02/DKHG về việc yêu cầu Công ty N thanh toán nợ mua xăng dầu và nợ lãi tính đến hết ngày 01/6/2020 là 1.634.047.148 đồng. Trong đó: nợ gốc là 1.556.275.986 đồng, nợ lãi là 77.771.162 đồng (tạm tính từ ngày 01/01/2020 đến 31/5/2020). Tuy nhiên, Công ty N chỉ thanh toán cho Công ty T1 số tiền là 500.000.000 đồng, còn lại số tiền 1.056.275.986 đồng.
Ngày 25/7/2022, Công ty T1 tiếp tục gửi Thông báo số 18/DKHG về việc yêu cầu Công ty N thanh toán nợ mua xăng dầu và nợ lãi tổng cộng là 1.416.039.471 đồng, trong đó nợ gốc là 1.056.275.986 đồng và nợ lãi 359.763.485 đồng (Tạm tính đến ngày 25/7/2022). Tuy nhiên đến nay, Công ty N vẫn không thực hiện thanh toán số nợ xăng dầu và nợ lãi còn thiếu mặc dù Công ty T1 đã nhắc nhở nhiều lần.
Vì vậy, Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty N thanh toán cho Công ty T1 tổng số nợ xăng dầu là 1.512.927.471 đồng (Trong đó, nợ gốc là 1.056.275.986 đồng và nợ lãi tạm tính từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/4/2023 (lãi suất 12%) là 456.651.485 đồng) và tiếp tục chịu lãi chậm trả cho đến khi thanh toán hết nợ.
2
* Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Dương Hữu T trình bày:
Ngày 31/7/2017, giữa Công ty T1 và Công ty N có ký Hợp đồng nguyên tắc bán xăng dầu số 03/2017/HDNT-DKHG nhằm cung cấp xăng dầu cho hoạt động bán lẻ xăng dầu của Công ty N. Tuy nhiên, do tình hình kinh doanh khó khăn cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 trong thời gian dài nên trong khoảng thời gian từ ngày 31/01/2018 cho đến ngày 30/9/2023 Công ty N chưa thanh toán được công nợ cho Công ty T1. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn có ý kiến như sau:
- Đồng ý với một phần yêu cầu khởi kiện đối với nợ gốc là 1.056.275.986 đồng, không đồng ý với nợ lãi là 456.651.485 đồng vì Hợp đồng nguyên tắc bán xăng dầu số 03/2017/HDNT-DKHG ngày 31/7/2017 không có quy định về lãi suất chậm thanh toán.
- Yêu cầu Công ty T1 cung cấp bảng tính nợ lãi chi tiết từ thời điểm phát sinh công nợ cho tới nay.
Tại phiên tòa:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Ngọc V trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty N trả toàn bộ số công nợ cho Công ty T1 với tổng số tiền là 1.565.018.962 đồng (Trong đó, nợ gốc là 1.056.275.986 đồng, nợ lãi từ ngày 01/01/2020 đến ngày 16/7/2024 (lãi suất 10%) là 508.742.976 đồng) và tiếp tục chịu lãi chậm trả cho đến khi thanh toán hết nợ.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Dương Hữu T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu khởi kiện, bị đơn đồng ý trả lại số tiền nợ gốc là 1.056.275.986 đồng, không đồng ý trả tiền lãi chậm thanh toán.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý, giải quyết của Tòa án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo pháp luật; Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng theo quy định.
- Về giải quyết vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty N có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 với tổng số tiền là 1.237.016.543 đồng. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Công ty T1 về việc buộc Công ty N thanh toán số tiền
3
328.002.419 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Công ty T1 khởi kiện yêu cầu buộc Công ty N thanh toán tiền công nợ và tiền lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng nguyên tắc bán xăng dầu số 03/2017/HDNT-DKHG ngày 31/7/2017. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy lần sau cùng giữa Công ty T1 với Công ty N xác nhận công nợ là ngày 31/10/2022 (BL 21) đến ngày 10/10/2023 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều là vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 319 Luật Thương mại năm 2005.
[3] Nội dung vụ án:
[3.1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như trình bày của các đương sự tại phiên tòa đều thống nhất nội dung như sau: Ngày 31/7/2017, giữa Công ty T1 với Công ty N có ký Hợp đồng nguyên tắc bán xăng dầu số 03/2017/HDNT-DKHG. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty N còn nợ tiền mua xăng dầu của Công ty T1 với số tiền 1.056.275.986 đồng. Xét đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đồng thời, căn cứ quy định tại Điều 168, khoản 3 Điều 171, khoản 4 Điều 172, khoản 4 Điều 175 Luật Thương mại năm 2005 thì yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.
[3.2] Căn cứ quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, do bị đơn đã vi phạm về thời hạn thanh toán tiền hàng nên phải chịu lãi suất nợ quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả. Đối chiếu với Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
4
tối cao và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: “Trường hợp này, tiền lãi do chậm thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân hàng tại địa phương tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm), trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Xét tại phiên tòa đại diện nguyên đơn thống nhất mức lãi 10%/năm là phù hợp với lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường nên được chấp nhận. Ngược lại, việc đại diện bị đơn cho rằng Hợp đồng nguyên tắc bán xăng dầu số 03/2017/HDNT-DKHG ngày 31/7/2017 không có quy định tiền lãi chậm trả nên không chấp nhận trả lãi là không đúng.
Tuy nhiên, nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán từ ngày 01/01/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 16/7/2024 là chưa phù hợp. Bởi lẽ, trong các biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của Công ty N đều không thể hiện tiền lãi chậm trả và tại Biên bản xác nhận công nợ lần sau cùng ngày 31/10/2022 (BL 21) cũng chỉ thể hiện “Bên B còn nợ bên A số tiền hàng là 1.056.275.986 đồng”. Theo hồ sơ thể hiện nguyên đơn có cung cấp các biên bản xác nhận công nợ từ tháng 01/2023 đến thàng 9/2023 nhưng không có ký tên, đóng dấu của Công ty N nên không được xem là xác nhận công nợ giữa hai công ty. Bản chất của việc xác nhận công nợ được hiểu là các bên xác nhận tổng số nợ đến một mốc thời gian xác định (bao gồm nợ gốc và nợ lãi). Vì vậy, chỉ có cơ sở xác định tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 01/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 16/7/2024: 1.056.275.986 đồng x 10%/năm x 01 năm 08 tháng 16 ngày = 180.740.557 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 1.056.275.986 đồng + 180.740.557 đồng = 1.237.016.543 đồng.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu không được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
[5] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Với những viện dẫn nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 168, khoản 3 Điều 171, khoản 4 Điều 172, khoản 4 Điều 175, Điều 306 và Điều 309 Luật Thương mại năm 2005;
- Án lệ số 09/2016/AL;
- Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T1.
Buộc Công ty TNHH N có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH MTV T1 với tổng số tiền là 1.237.016.543 đồng (Một tỷ, hai trăm ba mươi bảy triệu, không trăm mười sáu nghìn, năm trăm bốn mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Công ty TNHH MTV T1 về việc buộc Công ty TNHH N thanh toán số tiền 328.002.419 đồng (Ba trăm hai mươi tám triệu, không trăm lẽ hai nghìn, bốn trăm mười chín đồng).
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Nguyên đơn Công ty TNHH MTV T1 phải chịu 16.400.000 đồng, được khấu trừ 28.694.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000964 ngày 26/02/2024, được nhận lại 12.294.000 đồng (Mười hai triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Công ty TNHH N phải chịu 49.110.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, một trăm mười nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
6
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Hứng |
7
Bản án số 14/2024/KDTM-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 14/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hoàng hóa giữa nguyên đơn Công ty TNHH MTV với bị đơn Công ty TNHH N
