Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Minh Nhân và ông Nguyễn Quang Ninh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST - HS ngày 08 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với:

Bị cáo Lê Văn T; Không có tên gọi khác; sinh ngày 10/9/1995 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1971; Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1974; chỗ ở hiện nay: thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Gia đình bị cáo có 03 (ba) anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q. Theo lệnh trích xuất, bị cáo T có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trương Vĩnh H, sinh năm 2003, địa chỉ: thôn N, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  2. Anh Trần Đình D, sinh năm 1990, địa chỉ: TDP A M, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  3. Em Lê Thị Ngọc T2, sinh năm 2009, Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị C (là bố mẹ ruột của T2), cùng trú tại địa chỉ: thôn B, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 27/9/2023, Trương Vĩnh H nhắn tin qua điện thoại di động với Lê Văn T nhờ T đi mua ma túy hồng phiến cho H với giá tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và hứa khi mua xong cho H thì H sẽ cho T 02 (hai) viên ma túy hồng phiến để sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T đã đi mua ma túy hồng phiến với giá tiền 800.000 đồng (T3 trăm nghìn đồng) và về giao lại cho H tại đường trước khách sạn L2 thuộc thôn D, G, Quảng Ninh, Quảng Bình, số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) còn lại thì T tự ý giữ lại cho bản thân để kiếm lời và đã tiêu xài hết.

Vào lúc 16 giờ 00 ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã bắt quả tang Trương Vĩnh H cùng nhiều đối tượng khác có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại khách sạn L2 thuộc thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, thu giữ được 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, là ma tuý hồng phiến còn lại trong số ma tuý hồng phiến mà H đã mua từ Lê Văn T, số ma tuý còn lại H cùng đồng bọn đã sử dụng hết. Tại bản kết luận giám định số 949/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: 01 (một) viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ được nói trên là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,094g (không phẩy không trăm chín mươi bốn gam).

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Lê Văn T khai mua từ Trần Đình D (sinh năm 1990; chỗ ở: TDP G, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình). Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, chưa đủ cơ sở để xác định Trần Đình D đã bán ma tuý cho Lê Văn T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Đối với Trương Vĩnh H, sau khi mua ma tuý từ Lê Văn T, H đã cùng đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, đã bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trương Vĩnh H để giải quyết trong một vụ án khác.

Đối với Lê Thị Ngọc T2 (sinh năm 2009; chỗ ở: thôn B, xã H), là em gái của Lê Văn T, cho Tân mượn điện thoại để chuyển tiền mua ma tuý. Tuy nhiên, Lê Thị Ngọc T2 không biết về sự việc trên nên không xem xét xử lý.

Đối với đối tượng “Cọt” T khai đã cho T mượn xe mô tô để đi mua ma tuý về bán, căn cứ vào những thông tin mà T cung cấp, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh sau.

* Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng, số IMEI 1: 352462075352902, số IMEI 2: 352463075352900, điện thoại đã qua

sử dụng, màn hình trước có nhiều vết nứt vỡ, không kiểm tra chi tiết bên trong. Hiện vật chứng đang được giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Tại Bản cáo trạng số 07/CT – VKS ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa: giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Lê văn T4 từ 24 đến 30 tháng tù;

Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng, số IMEI 1: 352462075352902, số IMEI 2: 352463075352900 của bị cáo T4 dùng làm phương tiện liên lạc để phạm tội, căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo T4 thu lợi bất chính từ việc phạm tội, cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước, buộc bị cáo T4 phải nộp lại.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.

Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền, nghĩa vụ liên quan nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan Điều tra tiến hành lấy lời khai, đối chất theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sự vắng mặt của người này không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo T4. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Xem xét hành vi bị truy tố của bị cáo :

Tại phiên toà bị cáo Lê Văn T đã khai, thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 27/9/2023, Lê Văn T nhận được tin nhắn của Trương Vĩnh H qua điện thoại di động, nội dung nhờ T đi mua ma túy hồng phiến cho H với giá tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và hứa khi mua xong thì H sẽ cho T 02 (hai) viên ma túy hồng phiến để sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T đã đi mua ma túy hồng phiến với giá tiền 800.000 đồng (T3 trăm nghìn đồng) và về giao lại cho H tại đường trước khách sạn L2 thuộc thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Số tiền 200.000 đồng còn lại thì T giữ lại kiếm lời cho bản thân và đã tiêu xài hết. Vào lúc 16 giờ 00 phút, ngày 27/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã bắt quả tang Trương Vĩnh H cùng nhiều đối tượng khác có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tại khách sạn L2 thuộc thôn D, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, thu giữ được 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, là ma tuý hồng phiến còn lại trong số ma tuý hồng phiến mà H đã mua từ Lê Văn T, số ma tuý còn lại H cùng đồng bọn đã sử dụng hết. Tại bản kết luận giám định số 949/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: 01 (một) viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược màu hồng thu giữ được nói trên là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,094g (không phẩy không trăm chín mươi bốn gam).

Bị cáo Lê Văn T là người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý, là loại chất gây nghiện có nguy cơ gây hại lớn cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép. Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu luận tội tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo; góp phần đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo T thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải; bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận có công giúp nhân dân trong đợt lũ lớn năm 2020 tại xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để lượng hình phạt.

[4]. Các đối tượng khác liên quan:

Đối với Trần Đình D: bị cáo Lê Văn T khai mua mua tuý từ Trần Đình D. Tuy

nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, chưa đủ cơ sở để xác định Trần Đình D đã bán ma tuý cho Lê Văn T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau, nên Hội đồng xét xử chưa có sơ sở để xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với Trương Vĩnh H, sau khi mua ma tuý từ Lê Văn T, H đã cùng đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của H đã bị xử lý trong một vụ án khác.

Đối với Lê Thị Ngọc T2 là em gái của Lê Văn T, cho Tân mượn điện thoại để chuyển tiền mua ma tuý. Tuy nhiên, Lê Thị Ngọc T2 không biết về sự việc trên nên không xem xét xử lý.

Đối với đối tượng “Cọt” mà T khai đã cho T mượn xe mô tô để đi mua ma tuý về bán, căn cứ vào những thông tin mà T cung cấp, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả, Hội đồng xét xử chưa có sở sở để xử lý đối tượng “Cọt” trong vụ án này.

[5]. Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng, số IMEI 1: 352462075352902, số IMEI 2: 352463075352900, điện thoại đã qua sử dụng, màn hình trước có nhiều vết nứt vỡ của bị cáo T. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai, thừa nhận bị cáo dùng điện thoại này để làm phương tiện liên lạc, thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình phạm tội bị cáo và các đối tượng khác ở các vị trí khác nhau, đương nhiên phải có liên lạc, trao đổi, mới tiếp nhận ý chí của nhau để gặp gỡ, thực hiện hành vi. Ngoài hai điện thoại của Lê Thị Ngọc T2Lê Văn T thu giữ, không phát hiện có phượng tiện liên lạc nào khác, vì vậy bị cáo T khai sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng, số IMEI 1: 352462075352902, số IMEI 2: 352463075352900 để làm phương tiện liên lạc sau đó xóa dữ liệu nhằm không bị phát hiện là có cơ sở. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 200.000 đồng mà bị cáo T thu lợi bất chính từ việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47

của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; khoản 2 Điều 106; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 29/9/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án 16/4/2024 để đảm bảo cho thi hành án, theo quyết định của Hội đồng xét xử.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng, số IMEI 1: 352462075352902, số IMEI 2: 352463075352900 của Lê Văn T, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2024 giữa cơ quan Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng, khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, buộc bị cáo T phải nộp.

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/4/2024). Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nam

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỐI CAO

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /VKS-P3

Quảng Bình, ngày 22 tháng 8 năm 2023

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 41/QĐ-CSĐT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B, tỉnh Quảng Bình, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 04/QĐ-PC01 ngày 29 tháng 11 năm 2022; Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 15/QĐ-PC01 ngày 30 tháng 11 năm 2022 và Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can số 08/QĐ-PC01, ngày 29 tháng 11 năm 2022, của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đối với Hoàng Chính T5, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Bản kết luận điều tra số 49/KLĐT-PC01, ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Từ năm 2021 đến năm 2022, Hoàng Chính T5 lợi dụng việc hành nghề môi giới bất động sản, dùng thủ đoạn gian dối đưa thông tin về bất động sản của người khác khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu đăng bán trên các trang mạng xã hội làm cho nhiều người mua tin tưởng đặt tiền cọc để chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Với thủ đoạn gian dối trên, Hoàng Chính T5 đã chiếm đoạt của 09 bị hại với tổng số tiền 4.918.950.000 đồng, cụ thể:

Vụ thứ 1: Đầu tháng 3/2021, do thiếu tiền tiêu xài, Hoàng Chính T5 nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên dùng thông tin thửa đất B4 thuộc địa phận thôn L, xã Q, thị xã B đăng bán trên mạng xã hội giá 330.000.000 đồng. Chị Dương Thu H1, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình liên hệ mua. Do đang giai đoạn sinh con nên nhờ em trai chồng là anh Mai Đức C1, trú tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình trực tiếp giao dịch với Hoàng Chính T5 thì được T5 yêu cầu đặt cọc 30.000.000 đồng. Chị H1 đồng ý và đặt cọc 30.000.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận được tiền T5 chiếm đoạt và sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 23/3/2021, T5 tiếp tục yêu cầu chị H1 trả thêm 300.000.000 đồng để nộp thuế vì đây là đất đấu giá để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tin lời T5, chị H1 đồng ý và nhờ anh C1 giao 300.000.000 đồng tiền mặt cho Hoàng Chính T5. Sau khi nhận được tiền thì T5 chiếm đoạt, sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Khi đến hạn T5 không có đất để giao nên nói dối có người khác mua với giá cao hơn rồi chuyển lại cho chị H1 30.000.000 đồng. Đến ngày 02/6/2021, T5 đến nhà chị H1 viết giấy vay nợ xin trả dần. Sau đó, T5 nhiều lần chuyển trả thêm số tiền 32.000.000 đồng. Tổng số tiền Hoàng Chính T5 chiếm đoạt của chị Dương Thu H1268.000.000 đồng.

Vụ thứ 2: Đầu năm 2021, do thiếu tiền tiêu xài Hoàng Chính T5 liên hệ với chị Nguyễn Thị Hương G (sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình) kêu gọi góp vốn đầu tư bất động sản. T5 đề nghị chị G chuyển 170.000.000 đồng để đầu tư 02 thửa đất trên địa bàn xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bìnhxã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Do tin tưởng nên chị G không xem đất, không kiểm chứng thông tin mà chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng cho T5. Nhận được tiền, T5 chiếm đoạt và tiêu xài cá nhân. Sau đó, T5 có chuyển lại cho chị G số tiền 75.000.000 đồng để tạo lòng tin với chị G. Đến đầu năm 2022, T5 tiếp tục kêu gọi chị G đầu tư bất động sản để T5 có tiền trả cho chị G. Nghe lời T5, từ 10/4/2022 đến 26/7/2022 chị G đã chuyển cho T5 số tiền 223.000.000 đồng để đầu tư bất động sản. Nhưng sau khi nhận được tiền của chị G thì T5 sử dụng tiêu xài cá nhân

hết. Tổng số tiền T5 chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hương G318.000.000 đồng.

Vụ thứ 3: Ngày 07/9/2021, lợi dụng mối quan hệ quen biết và tình trạng giãn cách xã hội do dịch bệnh Covid 19 bùng phát nên Hoàng Chính T5 đã gửi thông tin 02 thửa đất (thửa số 1141 tờ bản đồ số 9, tại thôn V, xã Q, thị xã B và thửa đất số 75, tờ bản đồ số 9, tại địa chỉ thôn V, xã Q, thị xã B) cho chị Trần Thị H2, trú tại thôn N, xã Q, thị xã B bán với giá 608.000.000 đồng/1 thửa. 02 thửa đất trên T5 lấy thông tin từ nhiều nguồn, tuy nhiên T5 không biết chủ có bán hay không. Chị Trần Thị H2 chỉ xem thông tin qua tin nhắn zalo do T5 gửi và đồng ý mua cả 02 thửa đất với tổng số tiền 1.200.000.000 đồng. Thời gian này, T5 lấy lý do đang bị C2 phải cách ly nên yêu cầu chị H2 chuyển tiền qua tài khoản mà không cần viết giấy nhận tiền. T5 nhiều lần lừa dối để yêu cầu chị H2 chuyển đủ số tiền 1.200.000.000 đồng. Do đó, từ ngày 07/9/2021 đến 23/9/2021, chị H2 nhiều lần chuyển cho Hoàng Chính T5 với tổng số tiền 1.200.000.000 đồng vào số tài khoản: 0011004051872 Ngân hàng V1, mang tên Hoàng Chính T5. Sau mỗi lần nhận tiền, T5 sử dụng vào mục đích cá nhân hết, khi đến hạn, T5 dùng nhiều lý do trì hoãn. Tổng số tiền Hoàng Chính T5 chiếm đoạt của chị Trần Thị H21.200.000.000 đồng.

Vụ thứ 4: Tháng 3/2022, chị Phan Thị Minh D1, ở Tổ A H, Quận L, thành phố Đà Nẵng trao đổi với Hoàng Chính T5 (bạn học đại học) về việc đầu tư bất động sản tại tỉnh Quảng Bình và nhờ T5 làm người môi giới giao dịch, T5 hưởng phần chênh lệnh và tiền môi giới. Sau đó, T5 đã lấy các thông tin về bất động sản trên mạng xã hội gửi cho chị D1 nhằm chiếm đoạt tiền đầu tư. Ngày 24/3/2022, T5 lấy thông tin các thửa đất gồm: Thửa số 1193 tờ bản đồ số 6, địa chỉ: N, xã Q, thị xã B; Thửa số 2116 tờ bản đồ số 4, địa chỉ: N, xã Q, thị xã B và Thửa số 737 tờ bản đồ số 6, địa chỉ: T, xã Q, thị xã B chuyển cho chị D1 và yêu cầu chuyển tiền đầu tư. Ngày 24 và 25/4/2022, chị D1 chuyển tổng số tiền 270.000.000 đồng vào số tài khoản V1 của Hoàng Chính T5. Sau đó, T5 sử dụng hình ảnh giao dịch của người khác để lừa D1 đã bán đất thành công lãi 30.000.000 đồng rồi chuyển lại 100.000.000 đồng cho chị D1 để tạo lòng tin. Sau đó, T5 tiếp tục dùng các thông tin bất động sản khác gửi cho chị D1 để chiếm đoạt tiền đầu tư. Trong thời gian từ 24/4/2022 đến tháng 6/2022, chị D1 đã nhiều lần chuyển tổng số tiền 1.959.250.000 đồng vào tài khoản cho T5. Số tiền trên, T5 chiếm đoạt chi tiêu cá nhân.

Vụ thứ 5: Khoảng đầu tháng 4/2022, Hoàng Chính T5 biết được anh Phạm Xuân T6, trú tại TDP M, phường Q, thị xã B trúng đấu thầu thửa đất số 1390, tờ bản đồ số 4 tại địa chỉ thôn L, xã Q, thị xã B nên đề nghị chị Nguyễn Thị Hương G, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q góp 25.000.000 đồng cọc bán “lướt” để kiếm lời. Sau đó, T5 đặt cọc 50.000.000 đồng cho anh Phạm Xuân T6 rồi cùng chị G đăng bán thửa đất này trên mạng xã hội. Sau đó, các môi giới gồm chị Phạm Thế H3, trú tại: TDP A, phường Q, thị xã B; chị Nguyễn Thị T7, trú tại: Thôn T, xã M, huyện T đặt cọc 10.000.000 đồng và tiếp tục giới thiệu cho môi giới anh Nguyễn Quốc K, tạm trú tại: thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình để bán.

Ngày 12/4/2022, anh Nguyễn Trung H4, ở số A đường C, phường B, thị xã B chốt mua thửa đất trên với giá 685.000.000 đồng. T5 nhờ chị Nguyễn Thị Hương G cầm 01 giấy nhận đặt cọc ghi sẵn nội dung nhận tiền đặt cọc thửa đất 1390 đến gặp anh H4 để nhận cọc. Tại nhà anh H4, chị G nhận 90.000.000 đồng tiền cọc. Còn 10.000.000 đồng tiền “giữ chỗ” trước đó thì các môi giới H3T7 mỗi người nhận 5.000.000 đồng. Số tiền 90.000.000 đồng chị G thu về 25.000.000 đồng tiền góp và 5.000.000 đồng tiền nợ. Còn 60.000.000 đồng chị G chuyển lại cho T5 qua số tài khoản: 0011004051872, ngân hàng V1. Đến ngày 11/5/2022, T5 đến nhà anh H4 thông báo về việc nộp tiền thuế và tiền đấu giá đất. Trong đó, giá bán thửa đất là 685.000.000 đồng, tiền nộp thuế và tiền trúng đấu giá là 536.600.000 đồng, trừ tiền cọc. Anh H4 còn thiếu 48.400.000 đồng. T5 yêu cầu anh H4 nộp tiền đất, còn 48.400.000 đồng anh H4 chuyển vào tài khoản của T5. Hai bên viết 01 giấy nhận đặt cọc. Sau khi nhận được tiền, T5 chia cho chị G 10.000.000 đồng tiền lời khi giao dịch thành công thửa đất (Phần lợi nhuận khi góp vốn cọc đất) và chi 5.000.000 đồng tiền hoa hồng cho anh Nguyễn Quốc K (người môi giới).

Đến ngày 16/5/2022, anh H4 nộp tiền đất 536.600.000 đồng và thông báo cho T5 để làm thủ tục chuyển nhượng cho anh H4. Tuy nhiên, T5 không làm thủ tục chuyển nhượng mà lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này rồi bán cho anh Nguyễn Trường G1, trú tại: KP5, phường B, thị xã B vào ngày 21/7/2022 lấy tiền tiêu xài. Đến ngày 26/7/2022, anh G1 bán cho anh Trần Trọng V, ở thôn P, xã Q, huyện Q. Đến ngày 30/8/2022, thửa đất trên đã được bán sang tên cho anh Phùng T8, ở xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Tổng số tiền Hoàng Chính T5 chiếm đoạt của anh Nguyễn Trung H4685.000.000 đồng.

Vụ thứ 6: Ngày 04/5/2022, do thiếu tiền tiêu xài, Hoàng Chính T5 nói với chị Nguyễn Thị Phương L, trú tại tổ dân phố G, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình góp 150.000.000 đồng để mua chung thửa đất số 1146, thuộc tờ bản đồ số 9, địa chỉ tại thôn V, xã Q, thị xã B. Do có quen biết và đã từng giao dịch bất động sản nên chị L tin và đồng ý. Chị L nhờ em gái là chị Nguyễn Thị C3, trú tại phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình chuyển 150.000.000 đồng vào số tài khoản của T5 (số tài khoản: 0011004051872, ngân hàng V1). Sau khi có tiền, T5 chiếm đoạt và sử dụng vào mục đích cá nhân hết. Sau một thời gian, chị L phát hiện T5 chiếm đoạt tiền mà không góp vốn mua bất động sản và yêu cầu T5 trả tiền. Sau đó, T5 có chuyển lại cho chị L nhiều lần với số tiền 21.300.000 đồng. Còn 128.700.000 đồng, T5 chiếm đoạt, tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ 7: Đầu tháng 5/2022, chị Lê Thị T9, trú tại thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình biết Hoàng Chính T5 là người làm môi giới bất động sản nên liên hệ mua bất động sản. T5 lấy thông tin thửa đất 1328, thuộc tờ bản đồ số 7, địa chỉ tại thôn B, xã Q, thị xã B rồi bán cho chị T9 giá 305.000.000 đồng. Ngày 17/5/2022, T5 đưa chị T9 đi xem và giới thiệu đây là đất đang phân lô bán. Chị T9 đồng ý mua, T5 yêu cầu đặt cọc 50.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T5 sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, do thiếu tiền tiêu xài nên T5 tiếp tục dùng nhiều thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của chị T9 như yêu cầu chuyển tiền để san ủi đất, hạ giá bán còn 265.000.000 đồng với điều kiện chị T9 phải chuyển đủ tiền. Tin lời T5, chị Lê Thị T9 đã chuyển tiếp số tiền 210.000.000 đồng cho T5, T5 chiếm đoạt

và tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền Hoàng Chính T5 chiếm đoạt của chị Lê Thị T9260.000.000 đồng.

Vụ thứ 8: Ngày 15/6/2022, anh Nguyễn Xuân T10, trú tại thôn T, xã Q, thị xã B liên lạc với Hoàng Chính T5 để mua đất. T5 liên hệ với chị Nguyễn Thị Hồng Q, trú tại thôn P, xã Đ, huyện B là người làm nghề môi giới bất động sản để xin thông tin các thửa đất nên chị Q chuyển thông tin các thửa đất số H7, H8 thuộc xã C, huyện B cho T5. T5 chuyển cho anh Nguyễn Xuân T10 xem thông tin 02 thửa đất số H7, H8 và rao giá bán 330.000.000 đồng/thửa. T5 đưa vợ chồng anh Nguyễn Xuân T10 đi xem đất thì anh T10 đồng ý mua thửa H8. Sau đó, anh Nguyễn Xuân T10 giới thiệu thửa H7 cho anh Nguyễn Văn T11 ở cùng thôn mua.

Khoảng 14h00 ngày 16/6/2022, anh Nguyễn Xuân T10 gọi điện thoại cho T5 đến nhà để đặt cọc, T5 yêu cầu mỗi thửa đặt cọc 50.000.000 đồng, hai bên đồng ý. T5 làm giấy nhận đặt cọc thửa đất H8 với anh Nguyễn Xuân T10 và giấy nhận đặt cọc thửa đất H7 với anh Nguyễn Văn T11, rồi nhận của mỗi người 50.000.000 đồng. Sau khi có được tiền cọc, T5 chiếm đoạt và sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền Hoàng Chính T5 chiếm đoạt của anh Nguyễn Xuân T10 và anh Nguyễn Văn T11100.000.000 đồng.

Kết quả giám định tại các Bản kết luận số 1071/KL ngày 05/10/2022 và Bản kết luận số 1227/KL ngày 10/11/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh Q, kết luận: Chữ ký đứng tên Hoàng Chính T5 ở trên các mâu giám định so với chữ ký của Hoàng Chính T5; Chữ viết trên các mẫu cần giám định (trừ chữ ký đứng tên và chữ viết “Nguyễn Xuân T10”, “Nguyễn Văn T11”, “Nguyễn Trung H4”, “Hoàng Văn B”, “Hoàng C4”, “Nguyễn Văn H5”, “Mai Đức C1”, “Lê Thị T9”) so chữ ký, chữ viết của Hoàng Chính T5 trên các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ các tài liệu sau:

  • 01 giấy nhận đặt cọc giữa Hoàng Chính T5 và anh Nguyễn Xuân T10 về việc đặt cọc mua bán thửa đất H8, tờ bản đồ số 12 thuộc xã C, huyện B, tỉnh Quảng Bình;
  • 01 giấy nhận đặt cọc giữa Hoàng Chính T5 và anh Nguyễn Văn T11 về việc mua bán thửa H7, tờ bản đồ số 12 thuộc xã C, huyện B, tỉnh Quảng Bình;
  • 01 giấy nhận đặt cọc của Hoàng Chính T5 và anh Nguyễn Trung H4 về việc đặt cọc thửa đất số 1390, tờ bản đồ số 3, thuộc thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình;
  • 03 giấy nhận đặt cọc của Hoàng Chính T5 và chị Lê Thị T9 về việc đặt cọc mua bán thửa đất 1328, thuộc tờ bản đồ số 7, địa chỉ tại thôn B, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình;
  • 01 giấy nhận đặt cọc của Hoàng Chính T5 và anh Hoàng C4 về việc đặt cọc mua bán thửa đất 1027, tờ bản đồ số 4, thuộc địa chỉ thôn T, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình;
  • 01 giấy nhận đặt cọc của Hoàng Chính T5 và anh Mai Đức C1 về việc mua bán thửa đất B4 thuộc địa phận thôn L, xã Q, thị xã B;
  • 01 Giấy vay nợ đứng tên Hoàng Chính T5 với chị Dương Thu H1.
  • Tiền Ngân hàng N: 66.000.000 đồng (ông Hoàng Ngọc H6 bố bị can giao nộp khắc phục số tiền 50.000.000 đồng; anh Phạm Xuân T6 giao nộp 10.000.000 đồng là tiền của bị hại Phan Thị Minh D1; chị Võ Thị G2 giao nộp 1.000.000 đồng

là tiền của bị hại Trần Thị H2; chị Nguyễn Thị T7 giao nộp 5.000.000 đồng là tiền của bị hại Nguyễn Trung H4).

Về dân sự: Gia đình bị can, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giao nộp khắc phục và phục vụ điều tra, thi hành án tổng số tiền 66.000.000 đồng.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên:

KẾT LUẬN

Trong thời gian từ đầu năm 2021 đến tháng 7 năm 2022, Hoàng Chính T5 đã lấy các thông tin về bất động sản của người khác rồi rao bán. Khi người mua liên hệ, T5 đã gian dối thực hiện bán bất động sản mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu. T5 yêu cầu người mua chuyển tiền đặt cọc rồi chiếm đoạt của 09 người bị hại với tổng số tiền 4.918.950.000 đồng.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

Bị can: Hoàng Chính T5;

Sinh ngày 29 tháng 7 năm 1988, tại tỉnh Quảng Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Không tôn giáo;

Trình độ học vấn: Lớp 12/12;

Nghề nghiệp: Buôn bán và môi giới bất động sản.

Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Con ông: Hoàng Ngọc H6, sinh năm 1963;

Con bà: Hoàng Thị B1, sinh năm 1968, hiện cùng sinh sống tại phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Anh chị em ruột: có 02 người, T5 là con thứ nhất trong gia đình.

Vợ: Phạm Thị S, sinh năm 1997; Có 01 người con còn nhỏ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2022 cho đến nay.

Hành vi nêu trên của Hoàng Chính T5 đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

2...

3...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a, Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; ...”

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • Tình tiết tăng nặng: Bị can Hoàng Chính T5 “phạm tội 02 lần trở lên” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, bị can Hoàng Chính T5 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị can có hoàn cảnh khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, quá trình điều tra Cơ quan điều tra tiếp nhận 03 đơn tố giác tội phạm của các công dân gồm: Ông Hoàng C4 (sinh năm 1969, trú tại Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình); bà Phạm Thị Thanh L1 (sinh năm 1991, trú tại: thôn T, xã Q, huyện Q) và ông Mai Xuân H7 (sinh năm 1969, ở C, xã Q, thị xã B) tố giác Hoàng Chính T5 chiếm đoạt tài sản trong các giao dịch bất động sản. Cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu, chứng cứ có căn cứ xác định Hoàng Chính T5 nhận các khoản tiền đặt cọc, đã thông báo và chuyển tiền cọc cho chủ đất để thực hiện giao dịch theo hợp đồng. Việc phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi các đương sự khởi kiện ra Tòa, không có dấu hiệu tội phạm.

Ngoài việc bị chiếm đoạt 1.200.000.000 đồng, chị Trần Thị H2 còn cho T5 mượn số tiền 2.070.000.000 đồng. Tuy nhiên đây là giao dịch dân sự nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình để xét xử bị can Hoàng Chính T5, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

  • Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, đánh số bút lục từ 01 đến ;
  • Thống kê vật chứng;
  • Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSNDTC (Vụ 3);
  • - Đ/c VT VKSQB;
  • - CQ CSĐT (PC01);
  • - Bị can;
  • - Lưu HSVA, HSKS, P3.

KT. VIỆN TRƯỞNG

PHÓ VIỆN TRƯỞNG

Nguyễn Thái Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Tân mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger