|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————————— |
|
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 4 - 2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Phúc Định
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Thanh và ông Vũ Khắc Hoàn
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Chung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Đăng Viên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 171/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024. Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đinh Văn H, sinh năm 1977; nơi thường trú: khu T, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1980; nơi thường trú: Khu T, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai, và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đinh Văn H trình bày: Anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là phường C) thị xã Q, mà có tổ chức đám cưới và về ở với nhau vào ngày 25/01/2000 tại T, xã C, huyện Y (nay là khu T, phường C, thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến vài năm gần đây có xích mích nhưng anh H đều bỏ qua. Tuy nhiên, vài tháng trở lại đây thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, chị D nhiều lần bỏ nhà đi không thông nói gì với anh H. Đến nay mâu thuẫn không hòa giải được. Vì vậy, anh H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ giữa anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình chung sống chung anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D có 2 con chung là: Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 và Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000. Khi ly hôn anh H đề nghị được nuôi con chung là cháu Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 cho đến khi thành niên; không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung. Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000 đã thành niên nên tôi không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai chị Phạm Thị D có quan điểm: Chị Phạm Thị D và anh Đinh Văn H tự nguyện tìm hiểu nhau và tiến tới hôn nhân nhưng chỉ tổ chức đám cưới vào tháng 01 năm 2000 tại T, xã C, huyện Y (nay là khu T, phường C, thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh nhưng không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là phường C) thị xã Q. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng về quan điểm sống. Nay, anh H yêu cầu không công nhận vợ chồng giữa chị Phạm Thị D và anh Đinh Văn H thì chị Phạm Thị D đồng ý.
Về con chung: chị Phạm Thị D và anh Đinh Văn H có 2 con chung là: Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 và Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000; con lớn đã đủ tuổi trưởng thành, con thứ 2 là cháu Đinh Tấn P anh H sẽ có trách nhiệm nuôi con đến lúc con trưởng thành; chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị Phạm Thị D và anh Đinh Văn H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng do chị Phạm Thị D vắng mặt nên Tòa án không thực hiện được.
Tại phiên tòa sơ thẩm mở lần thứ nhất ngày 05/4/2024, chị Phạm Thị D vắng mặt không có lý do; mở lần thứ hai hôm nay 16/4/2024, anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D có đơn xin xử vắng mặt.
Quá trình xác minh tại khu T, phường C, thị xã Q, đại diện khu cho biết: anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D về chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn. Nay anh H yêu cầu không công nhận vợ chồng với chị D thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh H chị D và có 02 con chung: Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 và Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000; đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các bên cho phù hợp.
Kết quả xác nhận của Ủy ban nhân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh xác nhận đã kiểm tra sổ đăng ký kết hôn các năm đang lưu giữ tại Ủy ban nhân phường không có ghi tên vợ, chồng: ông Đinh Văn H và bà Phạm Thị D.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn H, không công nhận quan hệ giữa anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D là vợ chồng; về con chung, giao con chung Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 cho anh H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu P thành niên (đủ 18 tuổi), chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu giải quyết; về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Đinh Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng với bị đơn chị Phạm Thị D (có địa chỉ cư trú tại khu T, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh), nên căn cứ vào Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt), căn cứ vào khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung cần giải quyết của vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D tự nguyện về chung sống với nhau vào năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Cả hai chung sống với nhau đến năm 2023 xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không chia sẻ và cảm thông cho nhau và không còn chung sống cùng nhau nữa. Trong quá trình chung sống từ năm 2000 cho đến năm 2023 mặc dù có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng cả hai không đăng ký kết hôn. Quá trình xác minh khu phố và Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q xác nhận anh H, chị D không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mặc dù anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D có thời gian dài chung sống cùng nhau và có con chung nhưng căn cứ các Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 và khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch năm 2014, thì xác định anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D không phải là vợ chồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện không công nhận vợ chồng của anh Đinh Văn H có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D trình bày anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D có 02 (Hai) con chung là: Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 và Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000. Căn cứ kết quả xác minh, giấy khai sinh của các con chung do anh H nộp, đều thể hiện bố, mẹ của các cháu Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 và Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000 là anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D. Nên có cơ sở khẳng định các cháu Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 và Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000 là con chung của anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D. Con chung Đinh Mạnh H1, sinh ngày 08/11/2000 đã thành niên, anh H và chị D không yêu cầu giải quyết, anh H yêu cầu được giao nuôi cháu Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012; chị D có quan điểm đồng ý giao cho anh H nuôi cháu Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012; quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 có quan điểm về việc muốn ở với bố. Anh H không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con, xét thấy quan điểm của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, anh H và chị D có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về vấn đề khác: anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đề cập.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Đinh Văn H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 9, Điều 14, 15, khoản 2 Điều 53, 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn H.
1. Về hôn nhân: Không công nhận anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao con chung Đinh Tấn P, sinh ngày 12/12/2012 cho anh Đinh Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ ngày 15/4/2024 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), chị Phạm Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị Phạm Thị D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Đinh Văn H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) anh Đinh Văn H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0003793 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D vắng mặt. Báo cho anh Đinh Văn H và chị Phạm Thị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Phúc Định |
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 14/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn Huy. Không công nhận anh Đinh Văn Huy và chị Phạm Thị Duyến là vợ chồng.
