Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÈO VẠC

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Củng Trần Lương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Chí Cường

Bà Thào Thị Thu Nga

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Mua Mí Chứ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số14/2024/QĐXXST-HS ngày 01/08/2024 đối với:

- Bị cáo: Thào Duy A; (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 07/9/2004; tại huyện M, tỉnh Hà Giang; số CCCD: [...], cấp ngày 31/12/2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; nơi ĐKHKTT: thôn S, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Thào Thị G, sinh năm 1981; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân G1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt

- Bị hại: Cháu Sùng Mí T1, sinh ngày 22/5/2008; địa chỉ: thôn T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt

- Đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Sùng Thị C, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt

Những người làm chứng: Doãn Mí T2, Doãn Mí L1, Doãn Mí H, Mua Thế V, Nông Thị X. Vắng mặt: Thào Thị Thu L2. (Vắng mặt)

Đại diện cho người làm chứng Doãn Mí H: bà Là Thị P, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ B thị trấn M, huyện M, tỉnh Hà Giang. (Vắng mặt)

Đại diện cho người làm chứng Mua Thế Vinh: Bà Vàng Thị S, sinh năm 1987; Tổ 01 thị trấn M, huyện M, tỉnh Hà Giang. (Vắng mặt)

Đại diện cho người làm chứng Nông Thị X: Bà Phan Hồng H1 – Chức vụ: Chủ tịch Liên hiệp Hội Phụ nữ thị trấn M, huyện M, tỉnh Hà Giang. (Vắng mặt).

Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Vừ Mí S1, sinh năm 1967; trú tại: Tổ D thị trấn M, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/06/2023 cháu Sùng Mí T1 đang ngồi cùng bạn là Mua Thế Vinh tại mép vỉa hè đối diện ngõ giữa của Phòng tài chính - Kế hoạch và toà nhà làm việc của Khối dân huyện M để xem mạng xã hội trên điện thoại di động. Đến khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày, Thào Duy A cùng Doãn Mí T2 đi bộ về phía cháu T1V đang ngồi xem điện thoại. Thào Duy A nói với T2: “vào xem hai thằng kia là ai, từ đâu đến, có thuốc lá không?” cùng lúc này, cháu T1 thấy Duy AT2 đang đi đến nên cháu T1 đã vội cất giấu chiếc điện thoại vào cạp quần phía trước bụng. Khi Duy A tiến gần về phía T1 (T2 đi theo sau Duy A), Duy A hỏi T1: “mày là người ở đâu, có thuốc lá không cho tao xin một điểu”, T1 nói: “em là người trên Tò Đú, em không có thuốc”, Duy A tiếp tục nói: “thế thì mày đi mua cho tao một bao thuốc lá”, T1 nói: “em không có tiền”, Duy A tiếp tục hỏi “thế mày có điện thoại không”, T1 nói: “em không có đâu”. Đúng lúc đó, có Doãn Mí L1Doãn Mí H (là hai em ruột của Doãn Mí T2, đều trú tại: tổ B, thị trấn M, huyện M), đi từ trong ngõ giữa Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện M và Tòa nhà làm việc của Khối dân huyện M ra. Thấy Sùng Mí T1, L1 hỏi “điện thoại mày đâu, cho anh mượn xem giờ tý”. Vì chơi với H và có biết L1 nên T1 đứng lên và lấy điện thoại trong cạp quần ra cho L1 mượn xem giờ. Ngay sau đó, L1 trả điện thoại cho T1 rồi L1H đi về nhà, còn T1 lại ngồi vào bờ cống. Thấy vậy, Duy A nói “mày đưa cho tao mượn điện thoại”, nghe vậy, T1 đưa điện thoại cho Duy A bằng tay phải, Duy A cầm điện thoại bằng tay trái, thấy điện thoại đang khóa màn hình thì Duy A giơ điện thoại hướng màn hình ra bên ngoài để T1 vẽ mật khẩu mở khóa điện thoại. Sau khi T1 mở mật khẩu điện thoại thì Thào Duy A bảo Tính “mai cầm 200.000 đồng ra chuộc điện thoại”, T1 trả lời “không có tiền”. Nghe vậy, Thào Duy A bước chân trái lên một bước (cách Tính 20cm) rồi chuyển chiếc điện thoại sang tay phải để cầm (do tay phải Thào Duy A đang bị đau), sau đó liền dùng mu bàn tay trái vả 02 phát vào má bên phải của T1 (Tính lúc này đang ngồi). Thào Duy A nói tiếp với T1 “giờ lên Công an hoặc ngày mai cầm 200.000 đồng ra chuộc điện thoại”, T1 trả lời “Lên Công an thì lên, không sợ”, sau đó T1 đứng dậy, bước đi về hướng chợ Trung tâm huyện M, tỉnh Hà Giang với mục đích là đồng ý lên Công an. Thấy không doạ được T1 nên Duy A bước theo sau dùng tay trái kéo tay phải của T1 về phía mình và dùng khuỷu tay trái kẹp cổ T1 kéo người Tính lùi về sau đến đầu ngõ cách tường của toà làm việc của Khối dân huyện M 03m thì T1 liền dùng hai tay của mình gỡ tay trái của Duy A ra và bỏ chạy theo hướng cổng UBND huyện M. Khi T1 bỏ chạy, Mua T lo sợ nên cũng bỏ chạy đi theo hướng của T1. Đối với Doãn Mí T2 (Từ khi Duy A hỏi mượn điện thoại, bảo T1 vẽ màn hình để mở mật khẩu điện thoại, bảo T1 cầm 200.000 đồng lên chuộc điện thoại và thực hiện các hành động như: Dùng tay vả vào mặt, dùng tay kéo và kẹp cổ cho đến thời điểm T1 dùng hai tay gỡ được tay của Duy A ra sau đó T1 bỏ chạy thì T2 chỉ đứng nhìn không nói gì và cũng không có hành động giúp sức gì cùng với Thào Duy A.)

Sau khi Sùng Mí T1 bỏ chạy, Thào Duy A vẫn cầm điện thoại của T1 và cùng T2 đi bộ tiếp về hướng tổ B, thị trấn M. Khi đi đến khu vực ngã ba Quản lý thị trường (đường rẽ về nhà cậu của Duy A), Duy A nói với T2 “em say quá, anh cầm hộ em chiếc điện thoại này về, ngày mai em lên lấy” vừa nói, Duy A vừa đặt điện thoại vào tay T2, T2 không nói gì, chỉ cầm điện thoại và đi về nhà ngủ, còn Duy A đi về hướng nhà cậu Duy A tổ B thị trấn M để ngủ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi Duy A ngủ dậy, tự nghĩ đến hành vi cướp chiếc điện thoại của mình là vi phạm pháp luật, sợ Công an thị trấn M gọi lên làm việc và bị xử phạt theo quy định của pháp luật nên Thào Duy A đã bỏ trốn về nhà tại thôn S, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Sau đó tiếp tục bỏ trốn khỏi địa phương.

Còn Doãn Mí T2: Do say rượu, T2 ngủ đến 18 giờ cùng ngày, khi tỉnh dậy nhưng không thấy Duy A đến lấy điện thoại nên đi xuống nhà cậu của Duy A để đưa cho Duy A nhưng không thấy Duy A ở nhà. Lúc này, T2 nghĩ sợ liên quan đến chiếc điện thoại nên đã chủ động cầm chiếc điện thoại đến Công an thị trấn M, huyện M để tố giác hành vi phạm tội của Thào Duy A và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại nêu trên.

Ngày 13/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ban hành quyết định truy tìm người số 01/QĐ-TT.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M, xác định: Giá trị tài sản của chiếc điện thoại tại thời điểm yêu cầu định giá là 1.330.000 đồng.

Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ban hành quyết định truy nã số 66/QĐTN-ĐTTH đối với Thào Duy A. Đến ngày 01/4/2024, Thào Duy A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương bắt theo quyết định truy nã, sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang đã tiến hành thu giữ tài liệu, đồ vật, tài sản gồm:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màn hình cảm ứng, viền và mặt sau màu xanh.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại 15 Promax, màu Titan, số máy MU793VN/A, số Imei: 350492194081944, số Imei thứ hai: 35049219389917, màn hình nứt vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng của máy.

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, chiếc nhãn hiệu OPPO A15, promax, màu xanh đen, số Imei: 865613055860054, số Imei thứ hai: 865613055860047 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng của máy.

Ngày 17/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Hà Giang ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngày 11/3/2024 ra quyết định khởi tố bị can đối với bị cáo Thào Duy A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của BLHS 2015.

Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSMV ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Thào Duy A về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của BLHS 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Thào Duy A phạm tội “Cướp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thào Duy A từ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (Ngày 01/4/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và đại diện bị hại tự nguyện thỏa thuận bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 800.000 đồng, do vậy cần được ghi nhận.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn án phí HSST cho bị cáo Thào Duy A.

Ông Nguyễn Xuân G1 Trợ giúp viên pháp lý, bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm:

Về trách nhiệm hình sự: Đồng thuận với quan điểm của VKSND huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 BLHS, tuyên phạt bị cáo từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT thu giữ 02 chiếc điện thoại di động gồm: 01 chiếc Iphone 15 Promax, màu Titan và 01 chiếc Oppo A15, màu đen, đây là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội vì vậy đề nghị HĐXX trả lại số tài sản trên cho bị cáo.

Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Bà Nguyễn Thị L Trợ giúp viên pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phát biểu quan điểm:

Đồng thuận với quan điểm của VKSND huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang về tội danh và mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, án phí đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bị hại, đại điện bị hại nhất trí với quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, đề nghị HĐXX xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự nhất trí với số tiền 800.000 đồng bồi thường tổn thất tinh thần.

Lời nói sau cùng: Bị cáo gửi lời xin lời xin lỗi đến bị hại, bị cáo cảm thấy ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Hà Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng Doãn Mí T2, Doãn Mí L1, Doãn Mí H, Mua Thế V, Nông Thị X, Thào Thị Thu L2 và những người đại diện cho người làm chứng Là Thị P, Vàng Thị S, Phan Hồng H1, tuy nhiên đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng, người đại diện cho những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc làm sáng tỏ vụ án. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tiếp tục giải quyết vụ án.

[3] Về tội danh: Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ sức khỏe để lao động kiếm sống, bị cáo biết rằng tài sản của công dân được Nhà nước, pháp luật bảo hộ. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngoài ra còn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/6/2023, Thào Duy A có hành vi chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, màn hình cảm ứng, viền và mặt sau màu xanh, có giá trị là 1.330.000 đồng của cháu Sùng Mí T1 tại mép vỉa hè đường ngõ giữa P – Kế hoạch và tòa nhà làm việc của khối dân huyện M thuộc tổ B thị trấn M, huyện M sau đó bị cáo đã sử dụng mu bàn tay trái và vả 02 phát vào mặt phía bên phải của T1 và yêu cầu Tính hôm sau phải mang 200.000 đồng đến để chuộc lại điện thoại, khi T1 không đồng ý bị cáo đã sử dụng tay trái của mình kéo tay phải của T1 lại lại dùng khủy tay trái của bị cáo kẹp vào cổ của T1 kéo về phía sau khoảng 3 mét, lúc này T1 gỡ được tay bị cáo và chạy về phía UBND huyện. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị hại Sùng Mí T1 có độ tuổi là 15 tuổi 0 tháng 09 ngày. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thào Duy A phạm tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ...

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ.”

[4] Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Thào Duy A về tội Cướp tài sản quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lí hoang mang lo sợ, gây dư luận xấu trong nhân dân. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để đấu tranh phòng chống tội phạm đang diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn huyện M nói chung và khu vực thị trấn M nói riêng. Xét cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm theo khung khoản, điều luật mà bị cáo vi phạm, như vậy mới có tác dụng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[6] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[7] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại, đại diện bị hại và bị cáo thỏa thuận bồi thường tổn thất về tinh thần số tiền 800.000 đồng. Gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện M, số tiền 800.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002402 ngày 08/8/2024. Xét thấy việc bồi thường, khắc phục hậu quả của bị cáo, bị hại, đại diện bị hại là hoàn toàn tự nguyện không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận.

[10] Xét luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị về hình phạt áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù. Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo là nhất thời nông nổi, không mang tính chất lưu manh, côn đồ. Tuy nhiên hậu quả của hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, hơn nữa sau khi phạm tội bị cáo không ra tự thú mà trốn khỏi địa phương, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã có quyết định truy tìm người, T3 kêu gọi đầu thú và quyết định truy nã, mặc dù bị cáo biết được thông tin nhưng vẫn cố tình lẩn trốn thể hiện tính coi thường, thách thức pháp luật. Hơn nữa đối tượng bị cáo gây án là người chưa thành niên nên HĐXX không áp dụng khoản 1 Điều 54 của BLHS đối với bị cáo.

[11] Xét quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là có căn cứ cần được chấp nhận.

[12] Căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như vậy mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, nên HĐXX áp dụng Điều 38 BLHS đối với bị cáo.

[13] Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 BLTTHS và Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015:

Trả lại:

- 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại 15 Promax, màu Titan, số máy MU793VN/A, số imei: 350492194081944, số imei thứ hai: 35049219389917, màn hình nứt vỡ, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu oppo A15, promax, màu xanh đen, số imei: 865613055860054, số imei thứ hai 865613055860047.

Các vật chứng trên không liên quan đến vụ án xét thấy cần trả lại cho bị cáo.

[14] Đối với Doãn Mí T2: Trước, trong và sau khi xảy ra vụ án, bản thân T2 không được bàn bạc, trao đổi, thống nhất gì với bị cáo Thào Duy A. Hơn nữa sau khi không thấy Thào Duy A lấy điện thoại T2 đã đến Công an thị trấn Mèo Vạc để tố giác tội phạm, tích cực phối hợp với Cơ quan điều tra. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không đặt vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự đối với T2 mà đã giáo dục, nhắc nhở để T2 nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.

[15] Về án phí: HĐXX xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ án phí HSST đối với bị cáo Thào Duy A.

[16] Biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam để bảo đảm thi hành án, quy định tại khoản 1 Điều 329 BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Thào Duy A phạm tội “Cướp tài sản”
  2. Hình phạt:

    Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015. Xử phạt bị cáo:

    Thào Duy A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (01/4/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  3. Vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015:

    Trả lại:

    - 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, loại 15 Promax, màu Titan, số máy MU793VN/A, số imei: 350492194081944, số imei thứ hai: 35049219389917, màn hình nứt vỡ, đã qua sử dụng.

    - 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu oppo A15 promax, màu xanh đen, số imei: 865613055860054, số imei thứ hai 865613055860047.

    Các vật chứng trên không liên quan đến vụ án xét thấy cần trả lại cho bị cáo.

    (Tình trạng, đặc điểm chi tiết của các vật chứng, như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Hà Giang và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.)

  4. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS 2015, các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 BLDS 2015.

    Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, đại diện bị hại, bị cáo có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 800.000 đồng. Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 800.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện M theo biên lai thu tiền số 0002402 ngày 08/8/2024. (đã bồi thường xong)

  5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí HSST đối với bị cáo Thào Duy A.
  6. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - THADS huyện;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - HS THAHS;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Củng Trần Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG về cướp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/6/2023, Thào Duy A có hành vi chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, màn hình cảm ứng, viền và mặt sau màu xanh, có giá trị là 1.330.000 đồng của cháu Sùng Mí T tại mép vỉa hè đường ngõ giữa Phòng Tài chính – Kế hoạch và tòa nhà làm việc của khối dân huyện M thuộc tổ 02 thị trấn V, huyện M sau đó bị cáo đã sử dụng mu bàn tay trái vả 02 phát vào mặt phía bên phải của T và yêu cầu T hôm sau phải mang 200.000 đồng đến để chuộc lại điện thoại, khi T không đồng ý bị cáo đã sử dụng tay trái của mình kéo tay phải của T lại dùng khủy tay trái của bị cáo kẹp vào cổ của T kéo về phía sau khoảng 3 mét, lúc này T gỡ được tay bị cáo và chạy về phía UBND huyện. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị hại Sùng Mí T có độ tuổi là 15 tuổi 0 tháng 09 ngày
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger