Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH PH

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 14/06/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Côn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Sơn và ông Nguyễn Văn Phần.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh P tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 06 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 05 năm 2024 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Bàn Văn Đ (tên gọi khác: Không);

Sinh ngày 28 tháng 4 năm 1999;

Hộ khẩu thường trú, chỗ ở (nơi cư trú): Khu N, xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Dao;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Bố đẻ: Bàn Văn L, sinh năm: 1980

Mẹ đẻ: Hoàng Thị S, sinh năm 1980;

Hiện sinh sống tại xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái;

Vợ: Tạ Thị H, sinh năm 2002;

Con: 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023);

Hiện vợ và con sinh sống tại xã B, huyện Y, tỉnh Yên Bái;

Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023, đến ngày 02/01/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lã Thành C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Sáng ngày 26/12/2023, Bàn Văn Đ đi từ khu công nghiệp P, thị xã P đến thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ để tìm mua Pháo nổ và ma túy. Tại đây, Đ gặp và mua pháo nổ và ma túy của một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ), gồm 04 hộp giấy hình vuông có màu đỏ (pháo nổ) với giá 4.000.000 đồng và 02 ống dạng ống hút nhựa màu trắng bịt 2 đầu, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (ma túy Heroine) với giá 200.000 đồng.

Sau khi mua xong, Đ đi nhờ xe mô tô của 01 người không quen biết đến lối rẽ đi huyện T thì xuống xe đi bộ, đi đến khu S, xã T, huyện T thì Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T phát hiện Đ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện Bàn Văn Đ đang ôm 04 hộp giấy hình vuông, bên ngoài có chữ nước ngoài và hoa văn màu đỏ; bên trong mỗi hộp giấy đều có 01 tràng, trên các tràng có các vật hình trụ tròn có dây ngòi. Đ khai nhận đây là pháo nổ Đ mua mang về nhà nhằm mục đích tìm người có nhu cầu sử dụng để bán lại kiếm lời.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T kiểm tra tại túi quần bên trái của Đ phát hiện có 02 ống dạng ống hút nhựa màu trắng bịt hai đầu, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng. Đ khai nhận chất cục bột nêu trên là ma túy, loại Heroin Định mua cùng pháo nhằm mục đích để sử dụng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Đ khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Về các vấn đề khác của vụ án:

Ngày 27/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 132 đối với vật chứng thu giữ của Bàn Văn Đ. Tại bản kết luận giám định số: 1665/KL - KTHS ngày 30 tháng 12 năm 2023 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 ống nhựa đều màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, loại heroin có khối lượng là: 0,117gam”. (Heroin hay Heroine) là chất ma tuý nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số: 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Bản kết luận giám định số 1666/KL – KTHS ngày 30 tháng 12 năm 2023 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “04 hộp giấy có nhiều hoa văn màu sắc, mỗi hộp có kích thước 25cm x 25cm x 8cm, bên trong mỗi hộp giấy đều có 1 tràng dài, bên ngoài được gói bằng giấy màu đỏ,bên trong gói giấy có chứa các hình trụ tròn vỏ bằng giấy màu hồng, mỗi vật có chiều dài 3cm và đường kính ngoài 0,7cm, một đầu được bịt kín bằng giấy, đầu còn lại được gắn với đoạn dây dẫn màu xám tạo thành tràng dài 4m, rộng 7cm, dày 0,8cm, được gửi đến giám định là pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây ra tiếng nổ) tổng khối lượng là 7,0kg được quy định tại Chương I, điều 3, khoản 1 điểm a của nghị định 137/2020 ngày 27/11/2020 của Chính phủ”.

Ngày 02/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can số 01 đối với Bàn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 191 của BLHS 2015. Ngày 28/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn có công văn đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, cùng ngày Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã tiến hành xem xét và ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 01/2024/HSST-QĐ. Đến ngày 22/05/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 162, Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố Bị can số 161 đối với Bàn Văn Đ về tội "Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS; và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Ngày 27/05/2024 tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-TS của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn truy tố bị cáo Bàn Văn Đ về tội "Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015 thay cho cáo trạng số 05/CT-VKS-TS ngày 12/3/2024 đã truy tố bị cáo Bàn Văn Đ về tội "Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các vấn đề nêu trên.

Về nguồn gốc pháo nổ và ma túy bị cáo khai nhận mua của người đàn ông không biết là ai, ở đâu, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án này, khi nào điều tra làm rõ xử lý sau.

2. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS- TS ngày 27/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Bàn Văn Đ về tội "Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 BLHS 2015 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015. Tuyên bố Bị cáo Bàn Văn Đ về tội "Buôn bán hàng cấm” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Xử phạt Bị cáo Bàn Văn Đ từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội "Buôn bán hàng cấm” và từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù từ 33 (Ba mươi ba) tháng đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 27 tháng 12 năm 2023);
  • Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Bàn Văn Đ.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu và tiêu hủy 0,091 gam ma túy được niêm phong trong bì giấy số: PS32158426 và 5,1kg pháo nổ cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh P.
  • Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, Bị cáo, người bào chữa cho Bị cáo không ai có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

3. Bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất để Bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Ngày 22/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố vụ án và Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can đối với bị cáo Bàn Văn Đ từ tội “Vận chuyển hàng cấm” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 191; khoản 1 Điều 249 BLHS, chuyển thành tội “Buôn bán hàng cấm” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 190; khoản 1 Điều 249 BLHS. Đồng thời, tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-TS ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn đã truy tố bị cáo Đ về 02 tội là “Buôn bán hàng cấm” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS thay cho bản cáo trạng số 05/CT-VKS-TS ngày 12/3/2024 truy tố bị cáo về 02 tội “Vận chuyển hàng cấm” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là phù hợp.

Như vậy, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo và người bào chữa cho Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội.

Tại phiên toà hôm nay Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.

Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với Biên bản sự việc, biên bản hỏi cung, Biên bản niêm phong vật chứng, đồng thời phù hợp với lời khai của Người chứng kiến cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại khu S, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ phát hiện Bàn Văn Đ có hành vi vận chuyển 04 hộp pháo nổ có khối lượng 7,0kg Bị cáo mua về để bán kiếm lời, ngoài ra thu giữ trên người Bị cáo đang tàng trữ trái phép 02 ống nhựa bên trong có chất ma túy (loại Heroine) nhằm mục đích để sử dụng với khối lượng 0,117 gam.

Bị cáo thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội cũng như trật tự trị an trên địa bàn huyện T.

Từ các nhận định nêu trên đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Bàn Văn Đ đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định cụ thể:

Tại điểm c khoản 1 Điều 190 của BLHS năm 2015.

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của bộ luật này thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilogam đến 40 kilogam.”

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy, mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của Bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Pháo nổ gây nên hỏa hoạn, thương tích khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh tang thương còn ma túy nó trực tiếp đầu độc hệ thần kinh của người sử dụng, ảnh hưởng đến sức khỏe, giống nòi, gây ra các tệ nạn xã hội khác. Nhà nước đã nghiêm cấm tàng trữ và lưu hành. Vì lẽ đó cần phải xét xử Bị cáo nghiêm minh nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là phù hợp.

- Xét về nhân thân:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng cùng một lúc Bị cáo thực hiện hai hành vi phạm tội là “Buôn bán hàng cấm” để kiếm lời và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” để sử dụng đã thể hiện thái độ coi thường pháp luật, ăn chơi đua đòi, bỏ qua lời cảnh tỉnh của xã hội về tác hại của P nổ và Ma túy để cố tình thực hiện hành vi.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại điều 52 BLHS 2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo phạm 02 tội là “Buôn bán hàng cấm” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên trong vụ án này cần áp dụng điểm a, Khoản 1, Điều 55 BLHS, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là phù hợp

Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo cùng lúc thực hiện hai hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến lượng pháo nổ bị cáo mua để bán kiếm lời và lượng ma túy tàng trữ để sử dụng nên cho Bị cáo hình phạt ở mức thấp theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 190; khoản 5 Điều 249 BLHS là phạt tiền nhưng tại biên bản xác minh ngày 05/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã xác định: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị, đang sống phụ thuộc vào gia đình. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.

[4] Đối với người đàn ông đã bán pháo nổ và ma túy cho Bị cáo ở thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ,

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đàn ông đó là ai, ở đâu, nên chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án này là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,091 gam ma túy trong túi niêm phong có mã số PS32158426 của phòng KTHS- Công an tỉnh P và 5,1kg pháo nổ cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định, đây là vật chứng của vụ án là vật cấm tàng trữ, lưu hành không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp;

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa cho Bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí:

Bị cáo Đ là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm;

[8] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ kết tội, tội danh:
  2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tuyên bố Bị cáo Bàn Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  3. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  4. Xử phạt Bị cáo Bàn Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” và 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội mà bị cáo Bàn Văn Đ phải chấp hành là 33 (Ba mươi ba) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 27 tháng 12 năm 2023).

  5. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Bàn Văn Đ.
  6. Về xử lý vật chứng:
  7. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu và tiêu hủy 5,1kg pháo nổ và 0,091 gam ma túy cùng toàn bộ bao gói còn lại sau giám định của phòng K - Công an tỉnh P.

    Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 19/03/2024 và ngày 21/03/2024.

  8. Về án phí:
  9. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 điều 15 của nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo Bàn Văn Đ.

  10. Về quyền kháng cáo:
  11. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh
  • - CQ CSĐT Công an huyện;
  • - CQ THA dân sự huyện;
  • - UBND nơi b/c thường trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Côn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH về buôn bán hàng cấm và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Bàn Văn Đ - Buôn bán hàng cấm; Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger