Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 14/2024/DS-ST

Ngày: 14-5-2024

“ V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trần Thanh Hoàng.
  • - Ông Nguyễn Thị Mai.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 144/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-DS, ngày 04 tháng 3 năm 2024 và thông báo mở lại phiên tòa số: 153/TB-TA ngày 19/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Phạm T, sinh năm 1982;
  • Nơi thường trú: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn:
  • - Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1984;
  • - Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1989;
  • Cùng địa chỉ: Tổ I, khóm T, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
  • Người làm chứng: Ông Chau Đ, sinh năm 1981;
  • Địa chỉ: Ấp M, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.

( Ông T, ông N, bà G, ông Đ có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 12 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Phạm T trình bày:

Khoảng tháng 7 năm 2022 được biết ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị G có diện tích 2.398m² đất có ý định sang nhượng thông qua ông Chau Đ là cò đất giới thiệu, sau đó giữa tôi, vợ chồng ông N, bà G và ông Chau Đ đến thực địa đất nói trên, qua xem thực tế, đất có mặt tiền, đường bê tông rất tốt trong vấn đề kinh doanh cũng như lập vườn, tuy nhiên trên đất có vật kiến trúc là ngôi mộ xây gạch nằm gần giữ gốc đất. Qua thương lượng các bên thống nhất làm hợp đồng đặt cọc ngày 30/7/2022 giá chuyển nhượng là 980.000.000 đồng, ông đồng ý đặt cọc trước là 380.000.000 đồng với thỏa thuận là đến ngày 30/10/2022 ông N, bà G sẽ di dời mộ rồi các bên đến phòng công chứng ký hợp đồng và ông sẽ đưa số tiền còn lại.

Đến ngày 30/10/2022 qua nhiều lần ông đến đất, thấy ngôi mộ trên vẫn còn trên đất chưa di dời, sau đó ông đến nhà ông N, bà G nhưng không gặp, ông có gọi điện thoại kêu ông N, bà G xuống nhà ông nói chuyện.

Ngày 30/12/2022 vợ chồng ông N, bà G đến nhà ông, nói là xem ngày di dời mộ chưa được, hứa xin gia hạn thêm 3 tháng nữa sẽ di dời, nếu có chậm nhất là đến thanh minh năm 2023, đồng thời ông N, bà G nói hiện tại gia đình khó khăn, di dời tốn kém nhiều thứ, phải xây lại... nên ông đồng ý hỗ trợ thêm 20.000.000 đồng tiền di dời mộ, mục đích là để ông N, bà G sớm di dời nên mới có hợp đồng các bên ký ngày 30/12/2022 đây là hợp đồng phụ lục của hợp đồng ngày 30/7/2022 vì phần thỏa thuận khác các bên đã thống nhất ký kết là “ Nếu có thay đổi về thời gian hai bên sẽ thỏa thuận giải quyết”.

Sau ngày 10/3/2023 ông không nhớ rõ ngày cụ thể ông có đến đất xem, trên đất vẫn còn ngôi mộ chưa di dời, ông có đến nhà ông N, bà G yêu cầu di dời để các bên đến phòng công chứng ký hợp đồng, tuy nhiên ông N, bà G tỏ ra khó chịu nói với ông về tâm linh muốn dời là dời sau, phải xem ngày, tháng tốt mới di dời được.

Đến khoảng tháng 6 năm 2023 không nhớ ngày cụ thể ông đến đất xem có di dời mộ chưa thì thấy có người lạ trồng trụ đá, qua tìm hiểu được biết ông N, bà G đã sang nhượng đất cho người khác, sau đó ông đến nhà ông N, bà G nhiều lần không gặp, điện thoại không nghe máy dẫn đến tranh chấp.

Đối với số tiền ông N, bà G cho rằng đưa trả cho ông 100.000.000 đồng là ông xác nhận là không có nhận.

Tại phiên Tòa ông Phạm T yêu cầu như sau:

Đối với yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G trả lại số tiền 380.000.000 tiền đặt cọc ngày 30/7/2022 nay ông chỉ yêu cầu ông N, bà G trả lại số tiền 280.000.000 đồng, theo như biên bản Tòa án hòa giải và hòa giải thành ngày 08/11/2023 mà các bên đã thống nhất.

Đối với số tiền bồi thường tiền đặt cọc 380.000.000 đồng, ông xin rút lại yêu cầu, không yêu cầu ông N, bà G phải bồi thường.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G thống nhất trình bày:

Ông N, bà G thừa nhận có ký kết với ông Phạm T hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 2.398m² vào ngày 30/7/2022 trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày 30/7/2022 đến hết 10 giờ ngày 30/10/2022 và đã nhận tiền cọc là 380.000.000 đồng. Do trong hợp đồng đặt cọc hai bên có thỏa thuận nếu có thay đổi về thời gian thì hai bên sẽ thỏa thuận giải quyết. Do đến thời hạn ông T chưa lo đủ số tiền nên ngày 30/12/2022 giữa ông N, bà G và ông T ký lại hợp đồng đặt cọc thời hạn đặt cọc đến ngày 10/3/2023.

Nay ông T yêu cầu ông, bà trả lại số tiền 280.000.000 đồng trong số tiền 380.000.000 đồng tiền đặt cọc ngày 30/7/2022 ông, bà không đồng ý trả. Ông T đến nhà ông, bà không nhớ rõ ngày tháng cụ thể nói chuyện là ông T không có khả năng để tiếp tục thực hiện hợp đồng; lý do ông T đưa ra là phía bên Ngân hàng không cho vay, ông không có tiền, đồng thời nói là kêu chúng tôi bán đất cho ai thì bán, rồi cho ông lại bao nhiêu tiền thì cho; do vậy vợ chồng ông tin tưởng ông T mới sang nhượng đất tranh chấp trên cho người khác. Sau khi sang nhượng cho người khác xong, ông, bà có cho lại ông T 100.000.000 đồng.

Ông N, bà G xác nhận, trước khi ký hợp đồng đặt cọc đất ngày 30/7/2022 trên đất có ngôi mộ của cha ruột ông N, ông N, bà G thừa nhận giữa vợ chồng ông và ông Phạm T có thỏa thuận với nhau không lập thành văn bản là sau khi di dời mộ trên đất, trước khi giao đất. Do đi xem ngày dời mộ không được nên mới chậm trong vấn đề di dời. Sau đó có hứa là đến thanh minh năm 2023 sẽ di dời, đến ngày 19/02/2023 âm lịch ông, bà có thuê ông T1 không rõ họ và địa chỉ cụ thể là thợ hồ xây mộ cũng là người bóc mộ di dời mộ trên đất về sau nhà, ông xác định là di dời ngôi mộ trên sau thanh minh 03 ngày năm 2023.

Sau khi di dời mộ xong, ông T không đến nhà ông, bà nữa, không nói năng gì về việc sang nhượng đất nên để chứng minh cho việc ông T vi phạm, là sau khi di dời mộ trên đất xong ngày 19/02/2023 âm lịch vợ chồng ông kéo dài thời gian đến 06/6/2023 dương lịch ông, bà mới ký hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị Thúy M số tiền 930.000.000 đồng, do ông T nói là không có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng cũng như vợ chồng ông đã thực hiện theo những gì ông Phạm T nói.

Đối với hợp đồng đặt cọc ngày 30/12/2022 là do chính ông T viết, giao vợ chồng ông có sự chênh lệch số tiền 20.000.000 đồng, đây là tiền ông T hỗ trợ trả lãi cho ông, bà, bởi vì trước đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên ông bà vay thế chấp Ngân hàng.

Nay ông Phạm T yêu cầu ông, bà trả lại tiền đặt cọc 280.000.000 đồng ông, bà không đồng ý.

Người làm chứng ông Chau Đ trình bày:

Ông là người giới thiệu cho ông Phạm T và ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 30/7/2022, sau khi nhiều lần ông cùng với ông T đến đất, ông T không đồng ý mua với lý do là có 01 ngôi mộ được xây lót gạch nằm trong phần đất kêu sang nhượng qua thỏa thuận, thương lượng giữa ông, ông T và ông N là sẽ di dời mộ trước khi hai bên ký hợp đồng. Khi thống nhất thỏa thuận như trên là ông N, bà G sẽ xem ngày tốt di dời ngôi mộ ra khỏi đất, xong hai bên sẽ đến phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng. Giá mà ông T đồng ý nhận mua là 980.000.000 đồng/2.398m² đất. Ông T đặt cọc 380.000.000 đồng, số tiền còn lại là 600.000.000 đồng đưa sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi ký xong hợp đồng đặt cọc ông N, bà G có cho ông 10.000.000 đồng tiền hoa hồng.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

  • - Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.
  • - Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 280, 328 Bộ luật Dân sự 2015 xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm T, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G trả cho ông Phạm T tiền đặt cọc là 280.000.000 đồng.

Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm T về yêu cầu bị đơn bồi thường tiền cọc là 380.000.000 đồng, do nguyên đơn rút yêu cầu.

Tại phiên Tòa các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật:

Ông Phạm T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G trả tiền đặt cọc do vậy quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng đặt cọc đây là tranh chấp dân sự giữa cá nhân với cá nhân, đồng thời bị đơn ông N, bà G cư trú tại khóm T, phường T, thị xã T, An Giang. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả tiền đặt cọc, phạt cọc; đây là tranh chấp hợp đồng đặt cọc được quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

[3] Về nội dung:

Ngày 30/7/2022 ông Phạm T cùng với vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G thỏa thuận chuyển nhượng diện tích 2.398m² đất; với giá là 980.000.000 (chín trăm tám mươi triệu đồng). Để làm tin, giữa ông T và ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G có làm hợp đồng đặt cọc ngày 30/7/2022. Nội dung hợp đồng đặt cọc là ông Phạm T đưa trước cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G số tiền 380.000.000 đồng, số tiền còn lại 600.000.000đồng. Thời hạn đặt cọc và thanh toán là 90 ngày kể từ ngày 30/7/2022 đến ngày 30/10/2022; đồng thời phần thỏa thuận khác ghi có thay đổi về thời gian thì 02 bên sẽ thỏa thuận để giải quyết.

Căn cứ vào nội dung của hợp đồng ngày 30/7/2022, ngày 30/12/2022 ông Phạm T, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G tiếp tục ký kết thỏa thuận hợp đồng đặt cọc ( xác định hợp đồng phụ lục của hợp đồng ngày 30/7/2022) nội dung ông T nhận chuyển nhượng 2.398m² đất với số tiền 1.000.000.000 đồng, ông T đặt cọc trước 380.000.000 đồng, số tiền còn lại 620.000.000 đồng.

[4] Qua quá trình tố tụng, cũng như tại phiên Tòa, ông T, ông N, bà G xác định ông T chỉ đưa tiền đặt cọc số tiền 380.000.000 đồng, cho ông N, bà G theo hợp đồng đặt cọc ngày 30/7/2022. Đối với số tiền nhận cọc ghi trong hợp đồng đặt cọc ngày 30/12/2022 chỉ là hợp đồng phụ lục của hợp đồng các bên ký kết thỏa thuận ngày 30/7/2022, chỉ thay đổi về mặt thời gian các bên ký hợp đồng ghi trong phần thỏa thuận khác, do đó các bên không có giao, nhận tiền đặt cọc như nội dung trong hợp đồng đã ghi. Xét yêu cầu khởi kiện của ông T khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc ngày 30/7/2022 là có căn cứ.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc ký kết hợp đồng đặt cọc giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc, lừa dối, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng đặt cọc ngày 30/7/2022, ngày 30/12/2022 và thỏa thuận di dời mộ được các bên thừa nhận đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

[5] Lỗi làm hợp đồng không thể thực hiện được.

Xét thấy, ngoài nội dung thể hiện đã nêu trong hợp đồng giữa nguyên đơn, bị đơn thống nhất còn có thỏa thuận khác là hợp đồng chuyển nhượng được ký kết sau khi di dời mộ và được các bên thừa nhận. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên Tòa các bên đều có xác nhận là trước khi ký kết hợp đồng ngày 30/7/2022 và sau đó là hợp đồng đặt cọc ngày 30/12/2022 trên phần đất chuyển nhượng diện tích 2.398m² đất có tồn tại một ngôi mộ xây lót gạch, phù hợp với lời khai của người làm chứng là ông Chau Đ. Giữa ông T và ông N, bà G không thỏa thuận rõ ràng về thời gian cụ thể di dời mộ, vì mộ là không phải là đối tượng chuyển nhượng. Ông N, bà G cho rằng ông T không có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng kêu ông, bà sang nhượng cho người khác, vì tin tưởng lời ông T nên ngày 06/6/2023 ông, bà mới ký hợp đồng đặt cọc sang nhượng cho bà Nguyễn Thị Thúy M. Ngoài lời trình bày của các bên, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp được chứng cứ, chứng minh. Hội đồng xét xử xét thấy lỗi làm hợp đồng không thể thực hiện được là của cả 02 khi thực hiện hợp đồng đặt cọc là như nhau.

[6] Xét yêu cầu của ông Phạm T:

Ông T cho rằng sở dĩ có 02 hợp đồng đặt cọc nêu trên là do phía ông N, bà G chậm trễ trong việc di dời mộ mặt dù ông đã nhiều lần yêu cầu di dời, đồng thời trong hợp đồng ngày 30/7/2022 có thỏa thuận khác là “ Nếu có thay đổi về thời gian hai bên sẽ thỏa thuận giải quyết” từ đó ông tự nguyện hỗ trợ 20.000.000 đồng cho ông N, bà G sớm di dời mộ cụ thể là ghi trong hợp đồng đặt cọc ngày 30/12/2022 số tiền chuyển nhượng 1.000.000.000 đồng, trong đó 20 triệu đồng là tiền hỗ trợ di dời mộ, chứng tỏ mong muốn của ông T là thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên đến tháng 4 năm 2023 sau thanh minh ông N, bà G di dời mộ trên đất xong, mà không thông báo cho ông T biết, đến ngày ngày 06/6/2023 ông N, bà G ký xác lập hợp đồng đặt cọc với bà Nguyễn Thị Thúy M là vi phạm thỏa thuận. Do đó ông T yêu cầu ông N, bà G trả lại tiền đặt cọc là có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên Tòa ông T tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện cụ thể:

Đối với số tiền yêu cầu bồi thường 380.000.000 đồng ông xin rút lại, không yêu cầu ông N, bà G phải bồi thường tiền đặt cọc.

Đối với số tiền đặt cọc theo hợp đồng ngày 30/7/2022 số tiền 380.000.000 đồng, ông yêu cầu ông N, bà G trả lại 280.000.000 đồng, theo như biên bản hòa giải, hòa giải thành ngày 08/11/2023.

Xét thấy đây là sự định đoạt của đương sự và phù hợp pháp luật tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

[7] Xét yêu cầu của bị đơn ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G thấy rằng:

Ông N, bà G thống nhất xác nhận chỉ nhận tiền 380.000.000 đồng, của ông Phạm T từ hợp đồng đặt cọc ngày 30/7/2022, đối với số tiền đặt cọc 380.000.000 đồng, ngày 30/12/2022 là không có nhận, đấy là hợp đồng thay thế về thời gian thỏa thuận các bên ký kết hợp đồng.

Tại phiên Tòa ông N, bà G không đồng ý trả lại số tiền 280.000.000 đồng tiền đặt cọc theo yêu cầu của ông T. Ông N, bà G cho rằng, ông, bà không nhớ ngày tháng cụ thể là ông T có đến nhà ông, bà nói là ông T không có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng, do phía Ngân hàng không giải ngân, kêu ông, bà sang nhượng đất cho ai được thì sang nhượng, cho ông T lại bao nhiêu tiền thì cho, tin tưởng từ lời nói của ông T, do đó ông, bà mới sang nhượng đất cho người khác và có cho lại ông T 100.000.000 đồng. Ngoài lời khai của ông N, bà G ra, ông N, bà G không có chứng cứ nào khác để chứng minh là ông T không tiếp tục thực hiện hợp đồng và kêu ông, bà sang nhượng cho người khác, đồng thời không được ông T thừa nhận nên không có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên Tòa ông N, bà G không thống nhất lời khai, lúc khai là di dời mộ trước ngày 10/3/2023 dương lịch, lúc khai là di dời mộ ngày 19/02/2023 âm lịch nhằm 09/4/2023 dương lịch, đồng thời lúc khai có thông báo cho ông T biết là đã di dời xong, lúc khai không có thông báo cho ông T vì trước đó ông T có đến nhà thông báo là không có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng, ngoài lời khai của ông N, bà G, ông NG không có chứng cứ nào khác để chứng minh cho lời khai trên của mình. Ngày 06/6/2023 ông N, bà G xác lập hợp đồng đặt cọc với bà Trần Thị Thúy M1 930.000.000 đồng mà chưa được sự đồng ý của ông T là vi phạm sự thỏa thuận di dời mộ trước khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng.

Ông N, bà G cho rằng sau khi ký sát lập hợp đồng đặt cọc với bà Trần Thị Thúy M1 ông, bà có trả lại cho ông T 100.000.000 đồng tiền cọc, tuy nhiên ngoài lời khai ông, bà không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét cho ông, bà.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp Luật Tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận

[9] Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm T khởi kiện và được Tòa án chấp nhận yêu cầu, nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ông N, bà G vi phạm hợp đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 244 và Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 280 và Điều 328 Bộ luật dân sự.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm T đối với ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G về yêu cầu ông N, bà G bồi thường tiền cọc 380.000.000 ( Ba trăm tám mươi triệu đồng) đồng .

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm T đối với ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G.

Buộc ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị G có trách nhiệm liên đới trả số tiền 280.000.000 đồng ( Hai trăm tám mươi triệu đồng) cho ông Phạm Tuân .

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị G liên đới chịu án phí số tiền 14.000.000 đồng ( Mười bốn triệu đồng).

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 17.200.000 (mười bảy triệu hai trăm nghìn đồng) cho cho ông Phạm T theo biên lai thu số: 0009294 ngày 12/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, An Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Mai Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 14/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger